Ads 468x60px

Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2013

Nữ tu với Đức Chúa Giê-su Thánh Thể


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

NỮ TU
VỚI
CHÚA GIÊSU THÁNH THỂ

 

Lời ngỏ :
Thánh Thể là nguồn sức sống của Giáo Hội, là trung tâm điểm đời sống thiêng liêng của người Ki-tô hữu, và là sự sống còn của các hội dòng, các cộng đoàn trong Giáo Hội Công Giáo.


Thánh Thể là sự hiện diện của Đức Chúa Giê-su giữa loài người trong hình Bánh và Rượu, là tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Nguồn yêu thương vô hạn này ngày đêm mời gọi nhân loại “hãy đến và học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Thánh Thể là nơi mà tội nhân tìm được sự hối cải, người thiện chí tìm được niềm khao khát phục vụ tha nhân, và người đau khổ tìm thấy sự an ủi trong cuộc sống của mình.

Là những người được tuyển chọn để yêu mến Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, các nữ tu cũng đã nhiều lần cảm nghiệm được tình yêu cao cả ấy của Đức Chúa Giê-su nơi bí tích Thánh Thể, nhưng quan trọng hơn, chính là sự cảm nghiệm mình quá bất xứng khi đối diện với Thánh Thể trong lúc nguyện ngắm.

Xin được gởi đến các nữ tu những cảm nghiệm trong tập sách nhỏ : “Nữ Tu với Đức Chúa Giê-su Thánh Thể”, gọi là một chút chia sẻ với các chị trong Năm Thánh Thể này.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
--------------------------------------------
CHÚA GIÊSU
ĐẤNG MỜI GỌI CÁC NỮ TU SỐNG ĐỜI TẬN HIẾN

“Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai anh em kia, là Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. Người bảo các ông: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” [1].

Các nữ tu thân mến,
Được chọn làm nữ tỳ của Thiên Chúa, tức là được trở nên môn đệ của Đức Chúa Giê-su, và nói theo tinh thần tu đức là trở nên Bạn Trăm Năm của Ngài, tức là các nữ tu đã chọn Đức Chúa Giê-su làm Đấng Lang Quân của mình trong đời sống tận hiến. Một hồng ân cao cả mà chỉ có Thiên Chúa là Đấng đã làm nên những kỳ công tuyệt diệu trong vũ trụ mới làm được, đã thôi thúc những tâm hồn nhiệt thành đi theo lý tưởng mời gọi của Tình Yêu, đó là sống với tình yêu của Thiên Chúa ngay giữa trần gian này.

Đức Chúa Giê-su, Đấng đã đích thân gọi các nữ tu dâng hiến cuộc đời của mình để phụng sự cho một lý tưởng: lý tưởng toàn thiêu, tức là lý tưởng thuộc trọn vẹn về Đức Chúa Giê-su bởi lòng yêu mến Ngài, đó chính là nguyên nhân và là mục đích của đời tận hiến nơi một nữ tu.

Đức Chúa Giê-su, Đấng đã không màng đến thân phận cao cả của mình, nên đã tự hạ mình đi tìm kiếm những con người đầy sân si và tội lỗi để kết bạn trăm năm, chính Ngài đã đi tìm, đã mệt nhọc và đã yêu thương hết lòng người bạn tình mà Ngài đã chọn vì yêu thương, đó chính là các nữ tu đã và đang phục vụ đó đây trên khắp mặt đất này.

Đức Chúa Giê-su, Đấng đã chết trên thập giá vì yêu, đã không ngừng ban ơn xuống cho các nữ tu của Ngài, để trong cuộc sống họ -các nữ tu- được luôn thánh hóa và trung thành với ơn gọi. Được mời gọi để sống đời tận hiến là một vinh dự cho các nữ tu, và càng vinh dự hạnh phúc hơn khi các nữ tu ý thức được đời sống tận hiến của mình là làm sáng danh Bạn Trăm Năm của mình qua cuộc sống hy sinh và yêu thương với tất cả mọi con người.

1. Được gọi để yêu thương.
“Thầy đến rồi, Thầy gọi em đấy !”[2] lời nhắn nhủ vui mừng trong lúc tang gia bối rối của cô Mác-ta được chuyển đến cho cô em là Ma-ri-a, cũng là lời loan báo vui mừng đến cho các nữ tu là những người đã được Đức Chúa Giê-su gọi đi theo làm nữ tỳ của Ngài. “Thầy gọi em đấy” là tiếng nhắn nhủ đơn sơ nhưng đậm tình cảm thắm thiết của những người được Đức Chúa Giê-su chọn. “Thầy gọi em đấy” và chỉ gọi em thôi, đó là một lời nhắn nhủ cách đặc biệt mà Đức Chúa Giê-su qua trung gian của bề trên đã chọn các nữ tu của hội dòng mình. “Thầy gọi em đấy” em mau đáp trả lại lời gọi của Ngài đi, Ngài đang gọi em đấy.


Ngài gọi để các nữ tu tiếp tục sứ mạng tình yêu của Ngài ở trần gian, được gọi để yêu thương là mục đích của đời sống tận hiến của các nữ tu.

Tình yêu sẽ được đáp trả bằng tình yêu, đó là điều mà các nữ tu phải luôn tâm niệm, tình yêu của các nữ tu chắc chắn là không hoàn hảo khi dâng hiến cho Thiên Chúa, nhưng nhờ ơn sủng của Ngài mà các nữ tu mỗi ngày một hoàn thiện mình hơn khi tiếp xúc với Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, bởi vì ngoài Thánh Thể là nguồn mạch của tình yêu ra, thì còn có gì để các nữ tu đạt đến mức độ yêu thương như Thiên Chúa đòi hỏi chứ ?

Khi chọn cho mình một hướng đi với nhiều thử thách cam go trong cuộc sống, các nữ tu phải nhận ra rằng mình là những con người đầy những khuyết điểm, cần đến ân sủng và tình yêu của Đức Chúa Giê-su mới có thể xứng đáng với tình yêu của Ngài, do đó mà nếu không đến với Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, thì không thể đạt tới sự trưởng thành của đời sống tu trì trong xã hội hôm nay.

Đức Chúa Giê-su, Đấng đã yêu thương đến chết, đã dạy chúng ta rằng: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”[3], lời dạy này hàm chứa tất cả tình yêu của Ngài đối với nhân loại, và qua lời nói này mà Ngài vẫn cứ tiếp tục thực hiện tình yêu của Ngài cách cụ thể giữa Hội Thánh và con cái loài người, đó chính là bí tích Thánh Thể. Không có Thánh Thể thì Giáo Hội không có sức mạnh thần thiêng để nuôi dưỡng và dẫn dắt các linh hồn về với Thiên Chúa.

Khi được gọi để trở thành một nữ tỳ của Thiên Chúa trong một hội dòng, thì các nữ tu luôn được dạy dỗ rằng: Thánh Thể chính là nguồn mạch của tình yêu cho đời tận hiến, các nữ tu là những người hạnh phúc vì được Đấng Phu Quân trao ban thân mình để làm lương thực đời đời, để mỗi một nữ tỳ của Ngài trở nên những chứng nhân trung thành trong cuộc sống.

Không yêu mến Thánh Thể thì không thể được gọi là một nữ tu sốt sắng nhiệt thành trong đời sống tu trì, bởi vì họ không có nguồn lương thực để có sức vựợt qua những thử thách trong cuộc sống, cũng như họ không có sức để tiến lên trên đường trọn lành.

2. Nữ Tu, người an ủi Đức Chúa Giê-su Thánh Thể.
Trong vừơn Cây Dầu, những người được chọn trong số những người được chọn là thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gio-an, đã không đủ sức để canh thức với Đức Chúa Giê-su trong giây phút đau khổ nhất của Ngài, chính ba vị tông đồ yêu quý này dù tinh thần vẫn còn tỉnh táo nhưng xác thịt thì quá yếu đuối, Đức Chúa Giê-su không miễn cưỡng bắt họ phải thức để chia sẻ nổi đau khổ với mình, Ngài chỉ nhẹ nhàng nói: “Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao ?”[4].

Ba môn đệ yêu dấu của Đức Chúa Giê-su đã không thể cùng thức với Ngài một tiếng đồng hồ, đó là một dấu hiệu cho thấy con người ta bản tính yếu đuối, dù cho ở gần bên Đức Chúa Giê-su thì cũng vẫn có thể phạm tội, cũng vẫn có thể bị chước cám dỗ vì thân xác thì yếu đuối, nếu không có một quyết tâm xứng với sự hăng say của tinh thần. Tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối, đó là ngăn trở lớn nhất để người Ki-tô hữu đi đến với Thiên Chúa.

Được ở trong nhà dòng tức là được hạnh phúc ở trong nhà Thiên Chúa, hạnh phúc không phải vì khỏi lam lũ làm việc, hạnh phúc không phải vì không sinh con cái, hạnh phúc không phải vì phải lo lắng hôm nay ăn gì mặc gì, nhưng hạnh phúc chính là ngày đêm được kề cận bên Đức Chúa Giê-su Thánh Thể. Người nữ tu là người hạnh phúc bởi vì được ở trong nhà Thiên Chúa trong một cộng đoàn, ngày ngày được kết hợp với Đức Chúa Giê-su Thánh Thể do luật dòng quy định và do lòng mến Thánh Thể nơi tâm hồn của các nữ tu.

a. Lòng mến Thánh Thể do luật dòng quy định.

Hình như tất cả các hội dòng đều có quy định tham dự thánh lễ và viếng Thánh Thể mỗi ngày, đó là một quy định có thể nói là sự sống còn của hội dòng, bởi vì không có Thánh Thể thì không thể nào có sức sống thần thiêng, không có Thánh Thể thì không thể trở thành một nữ tu biết kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân như chính mình. Một cộng đoàn thiếu vắng Thánh Thể là một cộng đoàn vắng bóng lửa yêu mến và trở nên lạnh lẽo tình người với nhau, và như thế không thể đem lửa yêu mến của Thiên Chúa truyền đạt cho mọi người.

Sự bắt buộc này không phải làm “khó dễ” các thành viên trong hội dòng, nhưng là một bảo đảm an toàn và là sức mạnh của đời sống tu trì của các thành viên.

Mỗi ngày viếng Thánh Thể một lần chung với chị em trong cộng đoàn, hoặc tự mình viếng Thánh Thể là phương thế khôn ngoan để giúp cho mỗi nữ tu hun đúc lại cuộc sống thánh hiến của mình, và để thấy lại mình cho rõ ràng hơn dưới sự soi sáng của Đức Chúa Giê-su Thánh Thể. Không thể gọi là tuân giữ luật dòng, nếu chúng ta bỏ mất đi động cơ thúc đẩy chúng ta tuân giữ luật dòng và trở thành một tu sĩ thánh thiện đạo đức đó là giờ chầu Thánh Thể, bởi vì có thể nói: toàn bộ luật dòng là thân thể của dòng, nhưng luật quy định tham dự thánh lễ và giờ chầu Thánh Thể chính là quả tim làm cho thân thể sống động, và kết nối những phần tử trong thân thể với nhau nhờ ân sủng từ Thánh Thể thông ban, do đó nếu mỗi phần tử trong cộng đoàn không yêu mến Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, thì không thể tiếp nhận những đặc sủng từ Thánh Thể để chu toàn tốt bổn phận của một nữ tu, cũng như bổn phận của người con của Thiên Chúa.

Giờ chầu Thánh Thể bắt buộc này chính là giống như người nông dân bắt ép con trâu cày đi đúng vào hàng lối, để thửa ruộng được cày đều đặn và hứa hẹn một mùa gặt bội thu vì đất đai màu mỡ. Người nữ tu nhàm chán giờ chầu Thánh Thể bắt buộc này, thì chẳng khác chi mở cửa ngõ để cho thói quen trần tục và những cám dỗ của nó chạy thẳng vào trong tâm hồn và lan ra trong cuộc sống hằng ngày của mình, rồi thì hậu quả xảy ra trước nhất chính là họ không có được một sự bình an trong tâm hồn và trong cuộc sống tu trì của mình.

b. Lòng mến Thánh Thể tự nguyện.

Ngoài giờ chầu Thánh Thể bắt buộc do luật dòng quy định, thì các nữ tu cũng có thói quen tốt lành là kiếm giờ riêng để trò chuyện với Đấng Phu Quân của mình trong ngày.

Yêu mà không muốn gặp mặt, yêu mà không thích trò chuyện với người mình yêu thì không thể gọi là yêu tha thiết yêu hết tình, nhưng chỉ là yêu theo thời mà thôi. Cũng vậy các nữ tu là những người đã đi theo tiếng gọi tình yêu của Thiên Chúa, mà mục đích chính của tiếng gọi tình yêu ấy chính là an ủi Đức Chúa Giê-su Thánh Thể đang từng giờ từng phút, bị nhân loại phỉ báng và đóng đinh như ngày xưa ở trong vườn Cây Dầu và trên núi Can-vê, chính lòng tự nguyện viếng Thánh Thể này, đã làm cho các nữ tu càng ngày càng trở nên giống Đức Chúa Giê-su hơn, tức là các nữ tu biết phục vụ Ngài hơn, hiểu ý Ngài hơn, và hăng hái làm tròn sứ mạng của mình hơn trong môi trường mình hoạt động.

Với biết bao công việc hằng ngày, nào là dạy học, nào là đến trường học, nào là phục vụ nơi các viện dưỡng lão.v.v... các nữ tu hầu như không còn giờ để dành cho Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, nhất là các cộng đoàn đang làm công tác truyền giáo riêng lẻ, thì tâm tình yêu mến Đức Chúa Giê-su Thánh Thể thôi thúc các nữ tu ấy tìm kiếm giờ thích hợp để tự mình viếng Thánh Thể. Sẽ rất hạnh phúc khi một mình ngồi (quỳ) trước Thánh Thể trong nhà thờ (nhà nguyện) tứ bề yên lặng, chỉ có mình đối diện với Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, chỉ có mình với Đấng mình yêu mến, mặc sức mà trò chuyện, mặc sức mà thố lộ tâm tình với Đấng thấu suốt tâm can của con người, và trong giây phút yên lặng này người nữ tu mới thấy thật rõ những thiếu sót, và những khuyết điểm bất toàn của mình để xin ơn trợ giúp...

Yêu mến là công việc của con tim, nhưng yêu mến Thiên Chúa thì không những là việc của con tim mà còn là việc của lý trí, do đó mà người nữ tu sẽ không mù quáng đặt việc chầu viếng Thánh Thể riêng tư chiếm mất tất cả thời gian làm công việc của mình, có nghĩa là các nữ tu –trước hết- chu toàn bổn phận của mình, bởi vì viếng Thánh Thể là lãnh nhận sức mạnh thần thiêng của Thiên Chúa để chu toàn bổn phận hằng ngày của mình. Cho nên có thể nói như thế này: cùng với Đức Chúa Giê-su Thánh Thể chúng ta chu toàn bổn phận hằng ngày, bởi vì khi chu toàn bổn phận là chúng ta đặt Đức Ái lên trên mọi sự, nhưng sẽ không làm được như thế nếu chúng ta không yêu mến Thánh Thể là nguồn mạch tất cả sự khôn ngoan của người nữ tu, đang hoạt động giữa dòng đời với nhiều thử thách và cám dỗ.

Không một giáo sư nào dạy các nữ tu những kiến thức về sự khôn ngoan cho bằng Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, không một cố vấn nào có thể làm cho các nữ tu vững vàng trên đường trọn lành cho bằng Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, và chính Thánh Thể là nguồn an ủi cho các nữ tu trong những lúc vui cũng như khi buồn, hiểu được như thế thì các nữ tu sẽ tìm thời giờ để viếng Thánh Thể khi có thể được.

Viếng Thánh Thể không chỉ là cầu nguyện với Đức Chúa Giê-su, nhưng còn là an ủi Ngài như trước khi Ngài bị bắt, canh thức với Ngài khi Ngài lo buồn đến nỗi mồ hôi máu chảy ra, và cùng đi với Ngài lên núi Sọ để chịu đóng đinh với Ngài. An ủi Đức Chúa Giê-su Thánh Thể là chia sẻ những đau khổ với Ngài, mà đau khổ này trước hết là do chính những phản bội của chúng ta trong đời sống tận hiến.

3. Nữ Tu, người cảm nhận những đau khổ của Chúa Giêsu.
Đức Chúa Giê-su trước khi chịu chết đã thiết lập bí tích tình yêu, mà, nói theo ngôn ngữ loài người thì đó chính là một giao ước mới, giao ước vĩnh cữu giữa Thiên Chúa và nhân loại, qua giao ước này Thiên Chúa đã trở nên gần gủi và thân cận với con người hơn. Đức Chúa Giê-su với tâm hồn quảng đại và yêu thương đã không ngần ngại nói với các Tông Đồ: Các con hãy cầm lấy mà ăn, cầm lấy mà uống, vì này là mình Thầy sẽ bị nộp vì các con[5].

Đức Chúa Giê-su đã tình nguyện ở lại với nhân loại ngay cả khi nhân loại từ chối đón nhận Ngài, đây là một tình yêu tự nguyện, và đồng thời cũng là một sự hy sinh khiêm tốn tột cùng của Ngài đối với nhân loại tội lỗi. Qua việc bẻ bánh và nâng chén này, Đức Chúa Giê-su đã mạc khải cho chúng ta biết một sự thật rất đau xót, đó là tình yêu dâng hiến toàn vẹn của Ngài cho nhân loại đang bị phản bội.

Có người nói rằng họ cảm nhận được những đau khổ và niềm vui của người mà họ yêu thương, đó là sự thật.

Khi yêu nhau thì con người ta luôn cảm nhận được những vui buồn đau khổ của nhau, bởi vì họ cùng một nhịp đập của con tim là yêu thương.

Đức Chúa Giê-su Thánh Thể là Đấng mà các nữ tu hằng luôn yêu mến, đã kêu gọi các chị từ bỏ cuộc sống đời thường để đi làm nữ tỳ của Ngài, đã quyết định chọn các nữ tu là bạn trăm năm của mình, do đó mà không ai cảm nghiệm được tình yêu cao cả này của Thiên Chúa cho bằng các nữ tu. Và như thế, từ trong cuộc sống đời thường với những vui buồn và khổ đau của mình, và qua đó, các nữ tu đều cảm nhận được nỗi đau khổ của Đức Chúa Giê-su phải chịu vì tội lỗi của nhân loại.

Cuộc sống là một mầu nhiệm mà chỉ có những ai thành tâm yêu mến Thiên Chúa mới khám ra được tình yêu của Ngài, mầu nhiệm này được bộc lộ qua những vui buồn và đau khổ của mỗi người mà thôi.

Nỗi đau khổ trước tiên mà các nữ tu cảm nhận đó chính là đời sống cộng đoàn, cộng đoàn ở nhà mẹ cũng như cộng đoàn nơi các cứ điểm truyền giáo của các chị. Nỗi đau khổ “cộng đoàn” này chính Đức Chúa Giê-su cũng đã trãi qua trong cuộc sống làm người của Ngài, cộng đoàn của Ngài là những người Do Thái, trong đó bao gồm những thầy thông luật, những người biệt phái, và cộng đoàn mà Ngài yêu thương cách đặc biệt đó là Nhóm Mười Hai, mà một trong nhóm mười hai người ấy đã phản bội Ngài, đó là một khổ đau tột cùng của tình yêu bị phản bội.

Cuộc sống ở trần gian của Đức Chúa Giê-su không khác gì cuộc sống của một con người, cho nên các nữ tu đừng hình dung ra thế nào là phản bội tình yêu, các nữ tu hãy lấy tình yêu tầm thường của mình ra so sánh: không một nỗi khổ đau nào nặng nề hơn cho bằng nỗi khổ đau của người bị phản bội. Đức Chúa Giê-su cũng thế, Ngài cũng từng giây từng phút đau khổ vì sự phản bội của nhân loại, hãy an ủi Ngài và đặt mình vào trong trường hợp của Ngài thì các nữ tu sẽ thấy Ngài đau khổ biết chừng nào.

Một giờ hoặc ba mươi phút quỳ trước Thánh Thể, các nữ tu sẽ thấy được tất cả những gì mà Đức Chúa Giê-su muốn các chị em an ủi Ngài: các nữ tu sẽ thấy Ngài muốn các chị em sống trung thành với ơn gọi để cầu nguyện cho ơn gọi và những người được thánh hiến, các nữ tu sẽ thấy Ngài yêu cầu các chị em sống khiêm nhường để đền bù cho những người đã phủ nhận Thiên Chúa trong cuộc sống của họ, các nữ tu sẽ cảm nghiệm được đức ái là cao quý đến chừng nào để sống đức ái trong bổn phận của mình, và rất nhiều cảm nghiệm mà các chị em có thể thấy được qua việc viếng Thánh Thể của mình.

4. Nữ Tu, người chia sẻ với Đức Chúa Giê-su Thánh Thể.
“Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em hãy ở lại đây mà canh thức với Thầy”[6].

Không thể nói yêu thương nếu không chia sẻ với người yêu những vui buồn trong cuộc sống, chia sẻ là một thái độ của yêu thương như Đức Chúa Giê-su đã chia sẻ thân phận con người với chúng ta để cứu chuộc chúng ta, đó là tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại.

Trong những lần hiện ra với thánh nữ Ma-ri-a Ma-ga-ri-ta, Đức Chúa Giê-su đã tâm sự rằng với chị rằng: Ngài muốn có người an ủi Ngài vì thế gian đã phản bội tình yêu của Ngài. Và Ngài đã chọn vị nữ tu khiêm tốn ấy làm bạn để loan truyền sứ điệp tình yêu của Thiên Chúa cho mọi người trên thế gian này. Mỗi một nữ tu hôm nay là một hình ảnh Ma-ri-a Ma-ga-ri-ta xưa kia đã được Đức Chúa Giê-su chọn để an ủi Ngài, an ủi những đau khổ mà Ngài phải chịu vì nhân loại tội lỗi, những đau khổ ấy có khi chính là của các nữ tu với những kiêu ngạo, giận hờn, ghét ghen, đã như những đinh nhọn đóng vào tay và chân của Đức Chúa Giê-su trên thập giá.

Quỳ trước Đức Chúa Giê-su Thánh Thể với cảnh vật thinh lặng khác thường ở một góc nào đó trong nhà thờ, các nữ tu sẽ cảm nghiệm được những gì mà Đức Chúa Giê-su phải chịu trong vườn Giết-sê-ma-ni năm xưa, các nữ tu sẽ thấy mình đóng lại vai trò của ba môn đệ là ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và ông Gio-an với những mệt mỏi của những giây phút làm việc ập tới, với những băn khoăn lo lắng vì trách nhiệm đang ở trên đôi vai, với những niềm vui và buồn phiền của cộng đoàn, tất cả những điều ấy như một gánh nặng đè lên con người và tâm hồn của các nữ tu, và thay vì đến để xin Đức Chúa Giê-su Thánh Thể cất bớt những mệt nhọc ấy đi, thì các nữ tu với tâm tình yêu mến, đã thấy những điều ấy trở thành những giọt mồ hôi máu chảy ra trên khuôn mặt thánh thiện khả ái của Ngài, bây giờ các nữ tu không còn nghĩ đến những nỗi đắng cay của mình nữa, nhưng là trở thành những người bạn thân thiết an ủi Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, đó là một hạnh phúc, hạnh phúc của những người đang yêu và cùng nhịp tim với người mình yêu...

Ai cũng có nhu cầu yêu và được yêu, đó là chuyện thường tình của thế gian, nhưng nhu cầu chia sẻ với người yêu những đau khổ của họ thì hình như chưa được coi trọng, bởi tính khí của con người là ích kỷ và nhỏ nhen. Các nữ tu là những người có tâm hồn quãng đại với Thiên Chúa, khi Ngài kêu gọi họ trở nên người làm chứng cho tình yêu của Ngài ở trần gian này, do đó mà khi một mình quỳ trước Đức Chúa Giê-su Thánh Thể các nữ tu sẽ thấy Ngài có một nhu cầu rất trần thế, đó là cần có người an ủi Ngài vì những xúc phạm của nhân loại qúa to lớn đối với Ngài là Thiên Chúa khoan hậu và thứ tha.

Đây là lời tâm sự rất chân tình của Đức Chúa Giê-su: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được”, Ngài buồn vì những nổi buồn to lớn sau đây :
- Trước tiên là Giu-đa Is-ca-ri-ốt đã phản bội mình.
- Thứ hai là Phê-rô chối Ngài.
- Thứ ba là các môn đệ chạy tán loạn.
- Thứ tư là nhân loại ngày càng xúc phạm đến tình yêu của Ngài dành cho họ.

Những nỗi buồn này rất nhân loại, rất con người và rất thực tế trong cuộc sống làm người, do đó khi mà các nữ tu đắm mình trong cầu nguyện trước Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, thì chính các nữ tu sẽ cảm nhận được nỗi buồn này của Đức Chúa Giê-su, cũng chính là nỗi buồn của mỗi một con người chúng ta rất cần đến sự an ủi và động viên của người khác.

Người ta có thể chịu đựng được đau khổ, người ta có thể chịu đựng được nhục nhã và các đau khổ khác, nhưng người ta sẽ không chịu đựng được một tình yêu phản bội, bởi vì con người ta thường đi tìm cái hoàn thiện trong cái bất toàn, tìm sự chung thủy trong cái phản bội, có nghĩa là con người ta quá đặt tất cả vào tình yêu của người khác. Đức Chúa Giê-su với bản tính con người, Ngài cũng bị dằn vặt bởi những phản bội của con người, và với bản tính Thiên Chúa, Ngài càng đau buồn hơn khi nhân loại xúc phạm đến Ngài bằng những tội lỗi của họ, nhất là tội xúc phạm đến bí tích Thánh Thể là bí tích Yêu Thương của Ngài.

THÁNH THỂ
TÂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG CỦA CÁC NỮ TU

Con người sống bởi cơm bánh, và vì cơm ăn áo mặc mà con người ngày đêm phải lao đao vất vả khó nhọc, để kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình, cũng vậy Thánh Thể là tâm điểm của người Kitô hữu nói chung và của các nữ tu nói riêng, bởi vì một nữ tu thiếu bóng dáng Thánh Thể là một nữ tu đầy ắp tinh thần thế tục trong tâm hồn, và người ta sẽ thấy nơi những nữ tu thiếu bóng Thánh Thể này một sự kiêu căng hơn là khiêm nhượng, đỏm dáng hơn là đơn sơ, oán trách hơn là thông cảm, thích hưởng thụ hơn là phục vụ...

Tâm điểm đời sống của các nữ tu là Thánh Thể, như các tông đồ vây quanh Chúa Giêsu trên núi khi nghe Ngài giảng về “hiến chương Nước Trời” và những điều mà các môn đệ của Ngài phải có. Không lấy Chúa Giêsu làm tâm điểm thì các tông đồ cũng sẽ như Giuđa Iscariốt phản bội Ngài mà thôi, không lấy Chúa Giêsu làm tâm điểm thì tất cả mọi việc làm của Giáo Hội chỉ là vô ích.

1.Thánh Thể là sự tích cực của người nữ tu với công việc thường ngày, bởi vì trong tất cả mọi công việc đều sẽ trở nên nhàm chán, vì sự lập đi lập lại như chiếc kim đồng hồ tíc tắc tíc tắc không một chút cảm tình.

Người ta làm công việc vì cơm ăn áo mặc, người nữ tu làm công việc vì yêu mến Thiên Chúa, hai hoàn cảnh hai mục đích không giống nhau, nhưng sẽ gặp nhau ở một điểm, đó chính là sự nhàm chán trong công việc. Đức Chúa Giê-su Thánh Thể là nguồn sinh lực dồi dào nâng đỡ các nữ tu mỗi khi công việc nhàm chán, chính Ngài sẽ cùng làm việc với các nữ tu nếu họ chân thành mời Ngài đi vào thâm sâu cuộc sống của đời tu trì trong xã hội này. Chính sự nhàm chán trong công việc đã dẫn đến tình trạng trở nên chễnh mãng trong đời sống tu đức của các nữ tu cũng như của các tu sĩ khác, nơi công việc, dù hăng hái như “thuở ban đầu” chăng nữa, thì cũng có ngày phải nhàm chán và nhàm chán đến tận cổ, do đó mà Thánh Thể chính là nhân tố tích cực để cho người nữ tu phấn đấu hăng hái và vui vẻ tiếp tục công việc của mình.

Không có Đức Chúa Giê-su Thánh Thể thì các nữ vẫn cứ là cô nuôi dạy trẻ như những bảo mẫu khác không hơn không kém, vì công việc mệt nhọc và đơn điệu sẽ làm cho các nữ tu nóng nảy và đôi lúc gắt gỏng như những cô nuôi dạy trẻ khác, do đó, Thánh Thể chính là thần dược nâng đỡ ủi an và là một phương thế bảo đảm nhất làm cho các nữ tu khác với những người khác, khi mà ai cũng cảm thấy nhàm chán công việc đang làm, vì nhiều áp lực tinh thần cũng như mệt mõi thân xác, thì các nữ tu vẫn cứ là những bông hoa đẹp đem lại sự vui tươi cho mọi người...

2. Thánh Thể là sự can đảm của các nữ tu trong đời sống tu trì, ơn cam đảm này các nữ tu được lãnh nhận cách đầy đủ hơn khi kết hiệp mật thiết với Đức Chúa Giê-su Thánh Thể trong thánh lễ hằng ngày của mình.

Người ta cảm phục các nữ tu không những vì sự hy sinh tuyệt vời của họ, mà còn là vì chính những can đảm khi các nữ tu khước từ trước những cám dỗ của thế gian: tiền tài, sắc đẹp và những bon chen khác của một thiếu nữ. Sự can đảm này nói lên một tính cách thánh thiêng mà chỉ có những ai hoàn toàn yêu mến Thiên Chúa mới cảm nhận được. Nơi quán trọ trên đường Em-mau, hai môn đệ đã nhận ra Thầy của mình trong hành vi quen thuộc và rất thân thiện, đó là việc Bẻ Bánh của Đức Chúa Giê-su, lòng các ông đã dấy lên một sức mạnh khôn tả để rồi giữa đêm khuya[7] vụt quay trở lại Giê-ru-sa-lem để báo tin cho nhóm Mười Một và các bạn hữu biết Thầy đã sống lại rồi...

Đức Chúa Giê-su Thánh Thể là nguồn sức mạnh cho hai môn đệ trên đường Em-mau như thế nào, thì hôm nay, chính Ngài cũng sẽ là nguồn ơn sủng và làm cho các nữ tu mạnh dạn can đảm như thế trên đường Em-mau-cuộc-đời của các nữ tu.

Tất cả mọi nẻo đường mà bước chân của các nữ tu đi qua đều trở thành con đường Em-mau xưa kia, vì ngay chính trên những con đường ấy, các nữ tu thật sự là hai môn đệ cùng đồng hành với Đức Chúa Giê-su Thánh Thể với tinh thần hăng say rao giảng và làm chứng nhân cho Tin Mừng Phục Sinh mà không chút ngại ngùng, vì trời khuya đêm tối của sự dữ, của xa hoa và cám dỗ, bởi vì chính các nữ tu đã được Đức Chúa Giê-su đồng hành và mạc khải cho biết: Ngài chính là Đấng đã bị đóng đinh trên thập giá và đã sống lại.

Đồng hành với Thánh Thể trên quảng đường trần thế của các nữ tu không chỉ là lo làm việc truyền giáo nơi các trường học, bệnh viện, nhà xứ.v.v... nhưng còn là đồng hành với Ngài trong những lúc đau buồn hân hoan của cuộc sống dâng hiến, bởi vì sự can đảm không chỉ là chịu đựng những thử thách đau khổ cách can đảm mà thôi, nhưng sự can đảm này còn ở trong những “phát minh” mới làm cho các nữ tu tiến nhanh trên đường trọn lành, đó chính là những khám phá đầy sáng tạo trong ơn sủng của Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, và nhờ Thánh Thể mà các nữ tu luôn thấy mình ngày càng trở nên mới hơn trong cuộc sống hàng ngày, nhất là mới hơn trong cung cách khi phục vụ tha nhân, bởi vì Thánh Thần Thiên Chúa luôn đổi mới những tâm hồn biết yêu mến và học hỏi sự hiền lành nơi Thánh Thể.

3. Thánh Thể là sự khiêm tốn của các nữ tu, mặc dù được làm môn đệ của vị thầy vĩ đại –Chúa Chúa Giê-su - thì nên hãnh diện và có chút kiêu ngạo như người ta thường làm, nhưng các nữ tu thì không phải như thế, càng thấy mình được chọn làm tân nương của Đấng Phu Quân toàn năng, thì càng khiêm tốn vâng phục và bày tỏ lòng khiêm nhường hơn trước mặt Thiên Chúa và nhân loại. Đức Chúa Giê-su đã thức suốt đêm để cầu nguyện bàn hỏi với Chúa Cha trước khi chọn các môn đệ cho mình, đây là một đức khiêm tốn vô cùng thẳm sâu mà các nữ tu phải học cho bằng được, bởi vì chính ngay trong cuộc sống hiến dâng, ý riêng của mình đã nổi dậy và càng nổi dậy mạnh bạo hơn khi mình có chức quyền và địa vị, chính khi suy tư đến mầu nhiệm khiêm nhường này, chúng ta mới thấy được Thánh Thể chính là nguồn mạch yêu thương cách khiêm nhường cho chúng ta noi theo.

Có nhiều nữ tu đã coi nhẹ việc viếng Thánh Thể vì nhiều lý do, mà lý do quan trọng nhất khiến cho họ không mấy mặn mà với việc chầu Thánh Thể, dù là chầu chung với cộng đoàn, đó chính là sự kiêu ngạo ngấm ngầm thấm trong tâm tuỷ của họ, bởi vì họ không mấy thích cầu nguyện, bởi vì họ suy nghĩ đến đời sống thế tục tham sân si hơn là đời sống thánh hiến hy sinh và cầu nguyện đang khi phục vụ tha nhân, cho nên mỗi lần viếng Thánh Thể (chung, riêng) thì họ cảm thấy như là chuyện bất đắc dĩ, và quỷ kiêu ngạo sẽ sẵn sàng làm quân sư xúi giục họ tăng thêm sự hồ nghi Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, hoặc ít nữa là làm cho họ không coi trọng việc chầu Thánh Thể.

“Chẳng có ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban”[8], đây là lời làm chứng và là lời xác tín mạnh mẽ vào quyền năng của Thiên Chúa, bày tỏ lòng khiêm tốn của thánh Gioan Tẩy Giả trước sự xuất hiện của Đức Chúa Giê-su, ngài đã khiêm tốn cách anh hùng khi tuyên xưng trước mặt mọi người rằng, không ai có thể nhận được gì nếu Thiên Chúa không ban cho, ngay cả việc ngài làm là Phép Rửa nếu không được từ Trời ban cho, thì ngài cũng không thể làm được.

Cũng vậy, người nữ tu cũng sẽ không làm được gì nếu không được từ Trời ban cho. Trời ban cho là Bánh Hằng Sống và Nước Trường Sinh tức là Mình và Máu thánh của Đức Chúa Ki-tô, cũng là Thánh Thể mà hằng ngày các nữ tu rước lấy, chiêm ngắm và suy tư trong lòng những việc mà Đức Chúa Giê-su đã ban cho họ từ nơi nguồn Thánh Thể, và qua đó mà họ càng nhận ra rằng, mình chỉ là những “đầy tớ vô dụng” không xứng đáng được đón nhận ơn từ Trời ban cho trong cuộc sống đời thường.

Quỳ trước Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, thinh lặng chiêm ngắm Ngài rất khiêm tốn ẩn mình trong nhà chầu với tất cả lòng mến, người nữ tu sẽ thấy rất rõ rằng, Ngài đang thổn thức như trong vườn Cây Dầu năm xưa vì những xúc phạm của nhân loại và của mỗi một người trong chúng ta. Bởi vì, một nữ tu sống thật với ơn gọi chính là một nữ tu biết sống đời ẩn dật ngay giữa xã hội này như Đức Chúa Giê-su đang ẩn dật trong nhà chầu, Ngài ẩn dật với tất cả sự khiêm cung không lên tiếng, không phàn nàn khi người ta ngạo mạn và vô phép với Ngài nơi bí tích Thánh Thể trong nhà thờ.

Cũng vậy, người nữ tu sống ẩn dật giữa đời biết thinh lặng trong nơi ồn ào, biết chiêm ngắm Thiên Chúa khó nghèo trong cảnh xa hoa, biết cầu nguyện trong chỗ thờ ơ và biết thánh hoá mình giữa những cám dỗ vật chất, đó chính là một nữ tu biết kết hợp mật thiết với Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, và, có thể nhận lãnh tất cả mọi thứ từ Trời ban cho, bởi vì Thiên Chúa không thích người kiêu căng nhưng luôn yêu mến kẻ khiêm nhường.

ĐỨC CHÚA GIÊ-SU THÁNH THỂ
TÂM ĐIỂM CỦA VIỆC HỌC HỎI

Có rất nhiều nam nữ tu sĩ, nhất là những người thích tìm sự phong phú cho kiến thức của mình nơi các tác phẩm nổi tiếng ở đời, họ thích nói những điều cao siêu trên trời trong các tác phẩm văn chương, họ thích đàm luận về học thuyết này hay học thuyết nọ, họ thích lý luận những điều đã đọc được trong các tác phẩm tu đức mà họ cho là rất nổi tiếng, và khi họ càng bám vào các tác phẩm luận lý cao siêu của người đời, thì họ càng xa lìa Đức Chúa Giê-su Thánh Thể là trường dạy họ trong cách sống làm người tu sĩ.

1. Thánh Thể là tâm điểm của các sách tu đức.
Cứ mở các sách tu đức nổi tiếng trên thế giới ra, chúng ta sẽ thấy Đức Chúa Giê-su chính là nguồn cảm hứng và là tâm điểm của cuốn sách ấy, nó giúp chúng ta tìm kiếm và học hỏi phương pháp tiếp cận với Đức Chúa Giê-su Thánh Thể.

Mọi nguồn cảm hứng và những áng văn bất tuyệt về Thánh Thể đều được cảm hứng từ việc chiêm ngắm Đức Chúa Giê-su Thánh Thể của các thánh nam nữ, cũng như của các nhà đạo đức khôn ngoan thánh thiện. Một quyển sách suy niệm mà không có cảm hứng từ Thánh Thể thì nó chỉ là một cuốc sách thiên về văn chương hơn là sách tu đức, làm cho người ta tìm thấy văn chương hơn là gặp được Đức Chúa Giê-su Thánh Thể trong quyển sách ấy.

2. Thánh Thể là tâm điểm của việc tông đồ.
 
Thời nay, có nhiều hội dòng nam cũng như nữ có khuynh hướng “mở cửa” để nhìn ra thế giới với một ước mơ là truyền giáo, bởi vì “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít”, mơ ước này được thúc đẩy bởi lòng yêu mến Thiên Chúa và hy vọng rằng mọi người sẽ được ơn cứu độ, do đó mà đi đến đâu, việc trước tiên là xây dựng một nhà nguyện nho nhỏ để hằng ngày tế lễ, cầu nguyện và kết hợp với Đức Chúa Giê-su Thánh Thể.

Đời sống tu đức của các nữ tu không chỉ lệ thuộc vào luật dòng và tôn chỉ mục đích của hội dòng mà thôi, nhưng còn phải đặt Đức Chúa Giê-su Thánh Thể vào cuộc sống tu trì của mình, bởi vì nếu không đặt Ngài là tâm điểm của đời tận hiến thì dù cho các nữ tu răm rắp tuân giữ luật dòng thì cũng chỉ là như cái xác không hồn mà thôi, chỉ là cái mả tô vôi bên ngoài, nhưng bên trong thì đầy những thói thường tình của một nữ nhi như bao nhiêu các cô gái khác là đỏng đảnh, kiêu căng, giận hờn, ghen ghét mà thôi.

Tâm niệm rằng, Đức Chúa Giê-su Thánh Thể là tâm điểm của đời sống phục vụ của tôi, thì các nữ tu mới có được sự hăng say phục vụ cho lý tưởng của hội dòng mà mình đã chọn, bằng không thì khó mà có được thái độ phục vụ tha nhân cách tích cực.

Truyền giáo tức là làm việc tông đồ, cũng như các tông đồ xưa kia đã được Đức Chúa Giê-su sai đi loan báo Tin Mừng, rồi khi ngày chấm dứt thì các ngài lại về quây quần bên Ngài[9] để báo cáo cho Ngài nghe những việc mà các ông đã làm, cũng như để nghe những lời giáo huấn của Ngài, trong bối cảnh này cho chúng ta thấy Đức Chúa Giê-su chính là tâm điểm truyền giáo của các tông đồ.

Cũng vậy, có một kinh nghiệm lớn lao của Giáo Hội để lại cho chúng ta là: ở đâu có Thánh Thể thì ở đó cộng đoàn giáo dân có sức sống cách đặc biệt.

Làm việc tông đồ là giới thiệu khuôn mặt nhân từ đầy yêu thương của Đức Chúa Giê-su cho mọi người biết qua đời sống của các nữ tu, người ta thấy khuôn mặt của Đức Chúa Giê-su như thế nào, thì đều tùy thuộc vào đời sống phục vụ của các nữ tu đối với họ, bởi vì chính các nữ tu là những tông đồ được sai đi để làm công việc cao quý ấy, cho nên, nếu các nữ tu không đặt Thánh Thể làm tâm điểm truyền giáo của mình, thì chắc chắn rằng, người ta sẽ không nhìn thấy khuôn mặt của Đấng cứu thế khi các nữ tu rao giảng cho họ nghe.

Thánh Phê-rô tông đồ đã quả quyết với Đức Chúa Giê-su: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy”. Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy”[10]- nhưng rồi các tông đồ tán loạn mỗi người một nơi, vì chính các ngài không đặt Đức Chúa Giê-su vào trong tâm điểm cuộc sống của các ngài, các ngài chỉ nhìn thấy hào quang phép tắc của Đức Chúa Giê-su, mà không nhìn thấy mục đích cứu chuộc nhân loại của Ngài, cho nên các ngài đã vấp ngã.

Có rất nhiều nữ tu đã nhàm chán công việc tông đồ cách đơn điệu mà không lý giải được tại sao mình chán; cũng có rất nhiều nữ tu đã hối hận, và đã sống đời tận hiến cách tiêu cực không nhiệt thành công tác phục vụ, bởi vì các nữ tu này đặt nặng vấn đề công việc làm trọng tâm của việc tông đồ, mà không biết rằng chính Đức Chúa Giê-su Thánh Thể mới chính là tâm điểm, và là niềm phấn khởi để họ tiếp tục làm công việc truyền giáo trong đời sống tu trì của mình.

Thất bại hay thành công đối với một người có đức tin thì đó là việc của Thiên Chúa, nhưng đối với người không có đức tin thì là một nỗi đau khổ của họ, vì họ không tìm được nơi nương tựa để chia sẻ, họ không tìm được người bạn chân thật để tâm sự. Nhưng đối với những người yêu mến Đức Chúa Giê-su Thánh Thể như các nữ tu, thì thất bại hay thành công trong việc truyền giáo lại là một bài học quý giá cho họ, bởi vì họ có người bạn tin cậy nhất để an ủi, và hơn thế nữa, họ có Đấng Lang Quân của mình để chia sẻ và ủi an, đó chính là Thánh Thể vậy ! Một nữ tu truyền giáo mà không đến với Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, hay nói cách khác, không đặt Thánh Thể là trọng tâm của mình trong việc truyền giáo, thì sẽ trở thành một công nhân tích cực hơn là một nữ tu vì lý tưởng truyền giáo của mình...

Việc tông đồ là sứ mạng của tất cả những người đã lãnh bí tích Rửa Tội, là việc mà Đức Chúa Giê-su đã lệnh cho các tông đồ phải thực hành để nhân loại được ơn cứu độ: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ...”[11] việc trở thành môn đệ hay không đó là công việc của Thiên Chúa, công việc của các nữ tu là làm cho mọi người nhận biết Thiên Chúa là Đấng đầy lòng thương xót và yêu thương họ.

THÁNH THỂ LÀ LƯƠNG THỰC

Ăn và uống là hai việc quan trọng đối với thân thể của con người, cũng vậy, Thánh Thể là lương thực hằng sống của những kẻ tin, nhất là của những người dâng mình làm tôi tớ Thiên Chúa, các linh mục và các tu sĩ nam nữ.

Thánh Phao-lô tông đồ trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Cô-rin-tô ngài đã viết: “Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết”[12]. Loan truyền việc Đức Chúa Giê-su đã chịu chết tức đồng thời cũng loan truyền việc Ngài đã sống lại, và nhờ sự sống lại này mà Thánh Thể trở nên lương thực đời đời cho Giáo Hội của Ngài và cho những kẻ tin.

Loan truyền việc Đức Chúa Giê-su đã chịu chết khi rước lấy Mình và Máu của Ngài, tức là thánh Phao-lô tông đồ muốn mỗi người Ki-tô hữu phải sống như những kẻ đã chết cho tội lỗi và đã sống lại với Đức Chúa Giê-su, và trong một mức độ mà Thánh Thần ban cho, mỗi người tin vào Đức Chúa Giêsu đều phải sống theo bậc của mình khi tham dự tiệc Thánh Thể.

Nữ tu là những kẻ được Thánh Thần thúc giục sống đồi tận hiến, thì chính Thánh Thần ấy cũng mời gọi các nữ tu sống Thánh Thể trong suốt đời tận hiến của mình, đó là thường xuyên tham dự và kết hợp với Đức Chúa Giê-su Thánh Thể trong đời sống hoạt động tông đồ.

1. Từ hạt lúa miến đến tấm bánh.
Thánh Thể chính là Đức Chúa Giê-su, và cuộc đời của Ngài giống như quá trình trở thành tấm bánh thơm ngon của hạt lúa: làm người, rao giảng, hy sinh, chết và sống lại. Quá trình ấy đã làm cho Đức Chúa Giê-su trở nên Bánh Thánh và Rượu Thánh cho nhân loại hưởng dùng để được sống đời đời.

Khi tham dự bàn tiệc Thánh Thể thì các nữ tu cũng phải biết mình nên làm gì và làm như thế nào, để trở nên tấm bánh cho cộng đoàn và cho tha nhân, đó chính là thực hiện hy sinh, đức ái, và hoan lạc trong Chúa Thánh Thần.

Hạt lúa không bị nghiền nát thì không thể trở thành tấm bánh, cũng vậy, người nữ tu nếu không liên tục hy sinh trong cuộc sống, thì cũng không thể trở nên tấm bánh cho tha nhân hưởng dùng.

Bị nghiền nát là hy sinh.

Người ta không đánh giá một nữ tu tốt lành thánh thiện theo tiêu chuẩn tuân giữ luật dòng, bởi vì chú ý đến luật dòng mà làm hại đến đức ái thì không thể gọi là thánh thiện được, nói như thế không có nghĩa là không tuân giữ luật dòng hay giữ cách sơ sài, và nếu giữ luật dòng cách tiêu cực thì sẽ không nhìn thấy được cốt lõi của luật, bởi vì tất cả luật Giáo Hội hay luật của hội dòng thì đều nhắm đến cốt lõi là yêu thương, tức là Đức Ái, do đó người ta sẽ đánh giá một nữ tu thánh thiện ở điểm nữ tu đó có biết hy sinh cho tha nhân hay không mà thôi, vì hy sinh cũng có nghĩa là âm thầm tử đạo liên lĩ trong cuộc sống của mình.

Một nữ tu biết âm thầm hy sinh vì cộng đoàn, thì trở nên giống Đức Chúa Giê-su hơn là một nữ tu chỉ biết tuân giữ luật dòng, nhưng lại trở nên gánh nặng cho cộng đoàn trong lời nói cũng như trong việc làm. Đức Chúa Giê-su đến không phải để phá bỏ lề luật, nhưng để kiện toàn lề luật[13], chính Ngài đã làm cho lề luật của Môi-sen có “hồn” hơn và có một sức sống hơn khi Ngài giảng: “Anh em nghe luật dạy rằng: chớ ngoại tình, còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi...” [14], nghĩa là Đức Chúa Giê-su dạy chúng ta giữ luật cách tích cực và trọn hảo hơn.

Khi chấp nhận hy sinh chính mình để cho tha nhân được hạnh phúc, thì người nữ tu đã trở thành hạt lúa bị nghiền nát vụn đi, để người thợ là Đức Chúa Giê-su dùng bàn tay của mình nắn thành tấm bánh cho mọi người hưởng dùng, đó là ý nghĩa đẹp nhất của sự hy sinh.

Đức Chúa Giê-su đã bị nghiền nát như hạt lúa bị xay nát đến mịn màng để trở nên tấm bánh: Ngài đã bị sỉ nhục, bị nhạo báng, bị đánh đòn, bị đóng đinh trên thập giá và đã chết để cứu chuộc nhân loại. Khi bị lưỡi đòng đâm thâu, giọt máu cuối cùng và nước đã chảy ra và trở nên giòng nước hằng sống nuôi dưỡng Giáo Hội của Ngài.

Hy sinh là tấm bánh

Không hy sinh, không đi trọn đường khổ giá là không thể trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Chúa Giê-su, Thánh Thể là lương thực cho những linh hồn muốn trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Chúa Giê-su. Các nữ tu không phải ngẫu nhiên mà làm nữ tu, nhưng chính lòng yêu mến Đức Chúa Giê-su Thánh Thể đã làm cho các nữ tu ước muốn trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài, và như thế, các nữ tu đã trở nên tấm bánh cho tha nhân thưởng thức bởi tính khiêm tốn, hy sinh và phục vụ trong yêu thương nơi tha nhân của các nữ tu.

Lương thực không chỉ là cơm bánh mà thôi, nhưng còn chính là Lời Hằng Sống của Thiên Chúa[15], được các nữ tu “chế biến” qua thái độ hiền lành và khiêm tốn của mình, Lời Chúa không chỉ nghe nhưng còn là thấy, thấy những người ưu tuyển của Thiên Chúa thực thi Lời của Ngài trong cuộc sống phục vụ của mình, đó chính là các nữ tu.

Trong những công việc hằng ngày, với rất nhiều mồ hôi đổ xuống trên cánh đồng truyền giáo, để trở nên người của mọi người như Đức Chúa Giê-su, các nữ tu không ngừng nổ lực tự hiến đời mình vì lý tưởng phục vụ và loan báo tin vui Nước Trời cho mọi người, bằng những hy sinh của mình để chính bản thân mình trở nên tấm bánh thơm ngon tinh tuyền dâng lên Thiên Chúa và trao cho tha nhân hưởng dùng.

Thánh giám mục I-nha-xi-ô thành An-ti-ô-ki-a đã nói : “Tôi là miếng mồi ngon cho Đức Ki-tô. Ước gì nhờ răng của thú dữ, tôi trở thành tấm bánh được tuyển chọn”[16], chính ngài khi bị sư tử xé nát thây đã trở thành lễ vật dâng lên Thiên Chúa, và trở thành tấm bánh thơm ngon được tuyển chon cho giáo đoàn An-ti-ô-ki-a hưởng dùng, ngài đã trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Chúa Giê-su Thánh Thể.

Cũng vậy, nếu không trở nên tấm bánh cho tha nhân hưởng dùng, các nữ tu sẽ không được gọi là người môn đệ và là nữ tỳ của Đức Chúa Giê-su.

2. Từ cuộc sống đến Thánh Thể
Đời sống con người cũng có thể nói là một mầu nhiệm, và không một ai có thể giải thích được sự khổ đau nếu không cảm nhận được sự khổ đau của Đức Chúa Giê-su trên thánh giá, chính mầu nhiệm Thánh Giá này đã làm cho cuộc sống của những người tin vào Ngài có ý nghĩa hơn khi họ cúi xuống rửa chân cho tha nhân và chia sẻ đau khổ với họ.

Nữ tu là người sống mầu nhiệm Thánh Giá -hay nói cách khác- mầu nhiệm khổ đau nhiều hơn những người khác, vì chính khi phục vụ tha nhân thì các nữ tu cũng đã hòa mình vào sự đau khổ của Đức Chúa Giê-su, và nhìn thấy Ngài trong những người mà mình phục vụ.

Sống mầu nhiệm đau khổ

Có một sự kiện mà chúng ta điều biết và thâm tín, đó là Đức Trinh Nữ Mẹ Ma-ri-a đã sống mầu nhiệm khổ đau cách trọn vẹn, Mẹ sống mầu nhiệm này không phải chỉ bằng cách thông phần khổ nạn với Đức Chúa Giê-su trong tâm hồn mà thôi, nhưng bằng chính việc đi theo Đức Chúa Giê-su –Con Mẹ- trên đường khổ giá để chia sẻ những khổ đau mà Đức Chúa Giê-su phải chịu vì tội của nhân loại.

Đi với Đức Chúa Giê-su trên con đường khổ giá của đời tận hiến, các nữ tu đã trở nên giống Đức Mẹ Ma-ri-a là sống mầu nhiệm đau khổ ngay trong chính bản thân của mình khi kết hợp với những đau khổ của Đức Chúa Giê-su.

Có những lúc chúng ta nghĩ rẳng, cứ kết hiệp đau khổ với Đức Chúa Giê-su trong tâm hồn là được rồi, mà không muốn chia sẻ với Ngài những cực hình nơi thân thể mình, thì vẫn là chưa trọn vẹn; nói sống mầu nhiệm đau khổ với Đức Chúa Giê-su Thánh Thể mà vẫn cứ than thở buồn phiền vì người này người nọ, vẫn cứ để cái tôi của mình lên trên thánh ý của Thiên Chúa qua bề trên và cộng đoàn thì chưa sống mầu nhiệm Thánh Thể được. Đức Chúa Giê-su đã vâng theo ý của Cha trên trời, nên Ngài đã trở nên Bánh cho nhân loại được sống, trở nên Nước Hằng Sống để cho nhân loại được nước trường sinh, và chúng ta chỉ trở nên tấm bánh cho anh em khi chúng ta làm theo lời của thánh Phao-lô tông đồ, ngài nói: “Những ai thuộc về Đức Kitô thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê”[17], đó không phải là sống mầu nhiệm đau khổ với Đức Chúa Giê-su Ki-tô sao ?

THÁNH THỂ LÀ SỰ HIỆP NHẤT 

“Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con, để họ nên một như chúng ta”.[18]

Không ở đâu bày tỏ rõ ràng sự hiệp nhất cho bằng trong Giáo Hội của Đức Chúa Giêsu Ki-tô, và chính nhờ sự hiệp nhất ấy mà Giáo Hội của Ngài –nói theo khách quan- tồn tại cho đến hôm nay, và đó là một bằng chứng hùng hồn cho nhân loại thấy rằng, sự hiệp nhất này có được chính là vì Đức Chúa Giê-su vẫn ở lại với Giáo Hội mỗi ngày trong bí tích Thánh Thể cho đến ngày tận thế.

Đức Chúa Giê-su đã cầu nguyện với Chúa Cha xin cho các môn đệ được nên một, tức là được hiệp nhất với nhau, bởi vì Ngài biết rằng, Giáo Hội mà Ngài xây dựng trên nền tảng các tông đồ sẽ không tồn tại nếu không có sự hiệp nhất, do đó mà trước khi lìa bỏ thế gian, Ngài đã trao ban chính bản thân mình để bảo đảm cho sự hiệp nhất ấy trong Giáo Hội, đó chính là bí tích Thánh Thể, để những ai tham dự tiệc bánh thánh này sẽ được hiệp nhất với nhau trong đức ái.

1. Hiệp nhất là tha thứ.
Một cộng đoàn hiệp nhất là một cộng đoàn có đầy đủ ơn đoàn sủng của Thiên Chúa ban cho, dù đây là cộng đoàn nhỏ truyền giáo hay cộng đoàn nhỏ đang phục vụ trong các bệnh viện, trường học.

Sự tha thứ làm nổi bật tinh thần yêu thương của Đức Chúa Giê-su trong cộng đoàn, trong thư gởi giáo đoàn Rô-ma, thánh Phao-lô tông đồ đã khuyên bảo chúng ta: “Vậy, anh em hãy đón nhận nhau, như Đức Ki-tô đã đón nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa”[19], bởi vì chính thánh Phao-lô đã cảm nghiệm được như thế nào là làm sáng danh Thiên Chúa, đó là chấp nhận nhau như Đức Chúa Giê-su chấp nhận chúng ta, chấp nhận nhau chính là tha thứ cho nhau vậy.

Các nữ tu là những người được Đức Chúa Giê-su tuyển chọn, được Ngài chấp nhận vào hàng ngũ của những con người ưu tú, không phải để làm rạng danh các nữ tu, nhưng là để sáng danh Thiên Chúa Cha.

Bởi vậy, khi đã đón nhận nhau trong tinh thần yêu thương của Đức Chúa Giê-su, thì các nữ tu cũng biết tha thứ cho nhau khi chị em có những thiếu sót khuyết điểm với mình cũng như với cộng đoàn, có như thế cộng đoàn của các nữ tu mới thật sự là nơi lý tưởng, một nhà Bê-ta-ni mà Đức Chúa Giê-su ưa thích đến nghĩ ngơi sau một ngày mệt nhọc vì rao giảng Nước Trời. Trong bữa ăn cuối cùng với các môn đệ của mình, mong ước duy nhất của Đức Chúa Giê-su là muốn các môn đệ hiệp nhất với nhau trong yêu thương, như Ngài và Chúa Cha cùng với Chúa Thánh Thần hiệp nhất vậy, tinh thần hiệp nhất này cần phải có sự tha thứ cho nhau, bởi vì tha thứ là cốt lõi để được tha thứ, là nền tảng của sự hiệp nhất, bởi vì nói yêu thương mà không tha thứ thì chúng ta chẳng khác chi những cái mã tô vôi, bên ngoài để tấm di ảnh thật đẹp với những chức vụ của người chết, nhưng bên trong thì chỉ là nắm xương khô...

Đức Chúa Giê-su đã tha thứ cho thánh Phê-rô để thánh Phêrô yêu Ngài nhiều hơn và nhận ra tình yêu của Ngài dành cho ông, để thánh Phê-rô trở nên tảng đá sống động xây dựng Hội Thánh hiệp nhất của Đức Chúa Giê-su.

Không tha thứ được cho các chị em trong cộng đoàn thì cộng đoàn không có chất xúc tác để hiệp nhất, và như thế, dù các nữ tu có thâu đêm suốt sáng chầu Thánh Thể thì chỉ làm cho Đức Chúa Giê-su thêm buồn mà thôi, bởi vì Thánh Thể chính là yêu thương, tha thứ và hiệp nhất.

2. Hiệp nhất là hiệu quả của Thánh Thần.
Hoa quả của Thánh Thần thì có nhiều, rất phong phú, nhưng tất cả các ân sủng ấy quy hướng chúng ta đến sự hiệp nhất, mà thánh Phao-lô tông đồ trước khi đề cập đến tiệc Thánh Thể, ngài đã nghiêm khắc cảnh cáo về những trật tự trong cộng đoàn phải tuân giữ[20], tuy nhiên, cái quan trọng cho sự hiệp nhất trong cộng đoàn chính là: “Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau.”[21] Ăn ở thuận hòa và gắn bó với nhau là hoa quả của Thánh Thần trong cộng đoàn, thật vậy, nếu không có sự thuận hòa thì sẽ có chống đối, ghen ghét; nếu không có sự gắn bó với nhau thì chỉ có chia rẽ mà thôi, mà chia rẽ là vũ khí nguy hiểm nhất của ma quỷ dùng để chống phá Giáo Hội của Đức Chúa Giê-su, nhất là trong các cộng đoàn lớn nhỏ của Giáo Hội.

Có nhiều ý kiến, và ai cũng cho ý kiến của mình là đúng nên không đề phòng mánh lới của ma quỷ, và sẵn sàng chỉ trích phê bình những người không cùng quan điểm lập trường của mình.

Yêu mến Đức Chúa Giê-su Thánh Thể không phải là việc tranh luận chị đúng hay tôi đúng, nhưng Thánh Thể là sự khiêm tốn tột cùng của Đức Chúa Giê-su hằng ngày chịu đựng những xúc phạm của chúng ta, là sự nhịn nhục trong yêu thương của người yêu mến Ngài, đó chính là hiệu quả của Thánh Thần trong cùng một cộng đoàn. Ai chưa biết làm cho có thuận hòa trong cộng đoàn là người không thể nói lời yêu mến Thánh Thể, ai chưa làm cho cộng đoàn có sự gắn bó mật thiết với nhau, thì người ấy đang sống ngoài phạm vi ân sủng của Thánh Thần, dù rằng họ đang hằng ngày cùng với chị em chung sống học hành và làm việc với nhau.

MỖI MỘT NỮ TU LÀ MỘT MẸ MA-RI-A
YÊU MẾN ĐỨC CHÚA GIÊ-SU THÁNH THỂ

Đức Mẹ Ma-ri-a, người Mẹ tuyệt hảo đã ban tặng cách độ lượng người con duy nhất và yêu quý của Ngài cho nhân loại, đó chính là Đức Chúa Giê-su.

Nói yêu mến Đức Mẹ Ma-ri-a mà không yêu mến hoặc thờ ơ với Thánh Thể thì không thể gọi là yêu mến Mẹ được, bởi vì không thể tách rời Đức Chúa Giê-su ra khỏi Đức Mẹ là Đấng đã cưu mang và đồng công cứu chuộc loài người với con của mình, Mẹ đã chiêm ngắm Đức Chúa Giê-su mới sinh trong hang lừa máng cỏ với tất cả tình yêu vừa vui mừng vừa đau khổ; Mẹ cũng đã đi theo Đức Chúa Giê-su để nhìn thấy con mình bị các biệt phái và những kinh sư ngạo mạn rình rập ám hại vì ganh tức; Mẹ cũng đã đi theo con của mình lên trên đồi Can-vê để nhìn thấy người ta đóng đinh con mình vào thập giá; và đau khổ hơn, chính Mẹ đã ẳm xác con trong lòng mình để chiêm ngắm hình hài -vì yêu thương- đã biến dạng vì bị đánh đòn dữ tợn của quân lính.

Cuộc đời của Đức Mẹ Ma-ri-a là sự kết hợp liên lĩ với Đức Chúa Giê-su trong cuộc sống của Ngài, tình mẫu tử này được thể hiện rõ ràng nhất khi Mẹ đứng dưới chân thập giá, không ngã quỵ, không than trách, không oán hờn, nhưng can đảm dâng con cho Cha trên trời như của lễ toàn thiêu để chuộc tội cho nhân loại.

Người nữ tu ngày xưa cũng như ngày hôm nay, không một ai là không chọn Đức Mẹ Ma-ri-a làm mẹ của mình trong cuộc sống tu trì, và muốn mình nên hoàn hảo hơn nhờ sự dạy dỗ và bảo trợ của Đức Mẹ, nhưng trên hết bài học mà Đức Mẹ dạy chính là các nữ tu phải yêu mến Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, không yêu mến Thánh Thể thì không thể nói yêu mến Đức Mẹ Ma-ri-a.

Có nhiều nữ tu bày tỏ tình cảm của mình đối với Đức Mẹ Ma-ri-a bằng cách sốt sắng lần hạt mân côi, bằng cách đọc kinh và làm việc lành kính Đức Mẹ.v.v... tất cả đều là việc làm tốt, nhưng cái mà Mẹ thích nhất và muốn các nữ tì của Mẹ thực hành trong cuộc sống, đó là yêu mến Đức Chúa Giê-su Thánh Thể, chiêm ngắm Thánh Thể và suy ngắm đến những đau khổ mà Đức Chúa Giê-su đã chịu vì yêu thương nhân loại.
- Hãy trở nên giống Đức Mẹ Ma-ri-a để dễ dàng yêu mến Đức Chúa Giê-su Thánh Thể hơn.
- Hãy sống như Đức Mẹ Ma-ri-a đã sống, để nhìn thấy Đức Chúa Giê-su Thánh Thể đang hiện diện trong cuộc đời tu trì của mình.
- Hãy làm cho cuộc sống của mình giống như cuộc sống của Đức Mẹ Ma-ri-a ở Na-gia-rét: khiêm nhu, vui tươi, phục vụ và hi sinh.

LỜI NGUYỆN KẾT THÚC

Lạy Đức Chúa Giê-su Thánh Thể,
Chúng con cám tạ ơn Chúa vì đã ban cho chúng con được một năm hồng phúc –Năm Thánh Thể- để chúng con biết nhận ra được tình thương của Chúa đối với nhân loại qua sự thương khó, sự chết và sống lại của Chúa.

Hằng ngày chúng con đi tham dự thánh lễ trong tư cách của một nữ tu, nhưng chúng con vẫn chưa sống trọn vẹn tâm tình và bổn phận của người hiến dâng đời mình cho Chúa, để phụng sự Chúa trong tha nhân, chúng con vẫn chưa thấy được tình yêu mầu nhiệm mà Chúa đã dành cho chúng con từ thuở đời đời, và nhất là khi chúng con được Chúa gọi vào sống trong một cộng đoàn tu hội.

Lạy Đức Chúa Giê-su Thánh Thể,
Xin tha thứ cho chúng con vì những lần chúng con rước Chúa cách bất xứng, xin chữa lành vết thương do tội lỗi đã làm cho chúng con không được trọn vẹn thuộc về Chúa trong đời sống tu trì của mình. Với những thói hư tật xấu mà chúng con hằng ngày vẫn coi thường không cố gắng giữ mình, đã làm cho khuôn mặt của Chúa bị méo mó dị dạng khi chúng con nhân danh Chúa và Giáo Hội để làm việc tông đồ.

Xin ban cho chúng con ơn biết tha thứ cho những ai đã xúc phạm đến chúng con, như Chúa đã từng tha thứ khi chúng con đã ngàn vạn lần làm cho trái tim yêu thương của Chúa bị rướm máu vì những phản bội lời khấn hứa của chúng con.

Xin làm cho chúng con trở nên những nữ tu phản chiếu tình yêu của Chúa giữa nơi mà chúng con phục vụ, để tất cả mọi người đều nhận ra Chúa trong cuộc sống và lý tưởng của chúng con, bởi vì nếu không có Chúa thì chúng con sẽ không làm được gì cho xứng đáng.

Và sau hết, xin Chúa ban cho chúng con được ơn bền đổ đến cùng trong ơn gọi của mình, nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ Ma-ri-a –Mẹ của Chúa- và các thánh trên trời, để giữa xã hội lắm mưu mô chước độc của sa-tan, chúng con vẫn một lòng trung kiên với Chúa. Amen.

Tác giả
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

[1] Mt 4, 18-19.
[2] Ga 11, 28b.
[3] Ga 15, 13.
[4] Mt 26, 40b.
[5] Mt 26, 26-29. Mc 14, 22-24. Lc 22, 19-20.
[6] t 26, 38b.
[7] Lc 24, 33.
[8] Ga 3, 27.
[9] Lc 9, 10.
[10] Mt 26, 35.
[11] Mt 28, 19a.
[12] 1 Cr 11, 26.
[13] Mt 5, 17b.
[14] Mt 5, 27-32.
[15] Mt 4, 4.
[16] Phụng vụ chư thánh, ngày 17.10 kính thánh Inhatiô Antiokia GM tử đạo.
[17] l 5, 24.
[18] Ga 17, 11b.
[19] Rm 15, 7.
[20] 1 Cr 11, 2-31.
[21] Ep 4, 3.