Ads 468x60px

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013

Tập truyện: những câu chuyện ngụ ngôn (2)

Trần Huệ Tĩnh

 

NHỮNG CÂU CHUYỆN NGỤ NGÔN
Qua ngụ ngôn,
biết được khôn ngoan của người xưa,
mở ra tâm linh của trẻ em.
 
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
Dịch và viết suy tư
(tiếp theo)
 
 
 
56.   NGƯỜI TỐNG ĐƯỢC VĂN KHẾ
Có một người nước Tống đi dạo chơi trên đường vô tình nhặt được một văn khế bằng gỗ, trên tấm gỗ khắc nhiều số hiệu răng cưa thay thế cho số tiền, tức là ký hiệu mà các thương gia buôn bán thời đó dùng để làm bằng chứng, giống như tờ khế ước trong buôn bán vậy.
Người nước Tống này tỉ mỉ đếm mấy ký hiệu răng cưa trên tấm gỗ văn khế, nghĩ rằng mình nhặt được tấm gỗ văn khế này thì đổi ra được bao nhiêu lượng bạc, ảo tưởng đến tình cảnh mình sống qua những ngày tốt đẹp. Anh ta chịu không  nổi nên đem chuyện này nói với hàng xóm: “Tôi sắp trở thành người giàu có rồi.”
Nhưng anh ta hoàn toàn không biết tấm gỗ văn khế đó là do ai khắc, để có thể đến đó đổi thành tiền ?
(Liệt tử: Thuyết phù)
Suy tư 56:
      Thời nay, người ta dùng thẻ tín dụng để đi mua hàng, đi siêu thị, để rút tiền tự động rất tiện lợi và an toàn, do đó mà có người nhặt được thẻ tín dụng nhưng không biết làm sao để rút tiền, bởi vì không có số mật mã của nó...
     Thẻ “tín dụng” của người Ki-tô hữu là phục vụ, “mật mã” của thẻ tín dụng ấy là bác ái, nhờ thẻ “tín dụng” với”mật mã” ấy mà người Ki-tô hữu có thể “rút” được tình yêu của Thiên Chúa; khi có đức ái thì có thể làm được tất cả mọi việc, như: dễ dàng tiếp xúc với người khác, dễ dàng tạo niềm tin với người; dễ dàng chiếm được tình cảm của người chung quanh; dễ dàng giúp đỡ và phục vụ người khác dù cho hoàn cảnh bách hại khó khăn.
     Có nhiều người cũng nói mình phục vụ, nhưng không mấy ai có thiện cảm với họ, bởi vì họ phục vụ nhưng không có đức ái, bởi vì họ phục vụ vì ăn lương nhà nước, vì nồi cơm của mình chứ không vì yêu thương tha nhân mà phục vụ. Họ chẳng khác chi có thẻ tín dụng phục vụ mà không có mật mã là bác ái, nên không thể mở được tâm hồn của người khác.
     Phục vụ và yêu thương phải đi đôi với nhau như thẻ tín dụng và mật mã vậy, bằng không thì sự phục vụ chỉ có tính cách xã giao, lễ nghi và thương hại mà thôi...
57.   BẠCH CÔNG THẮNG SUY NGHĨ LÀM LOẠN
Bạch Công Thắng người nước Sở muốn đánh nước Trịnh để báo thù cho phụ thân, nhưng người chấp chánh là Tử Tây không muốn xuất binh. Công Tôn Thắng bèn nảy sinh ý niệm làm loạn, muốn phát động chính biến để nước Sở xuất binh.
Tất cả tâm tư của ông ta đều tập trung vào việc làm loạn, khi đến triều đình nghị sự thì tâm không ở đấy, khi thoái triều thì roi ngựa trên tay lại cầm ngược, roi nhọn hướng lên đâm vào hai má, máu chảy giọt trên đất nhưng ông ta cũng không có cảm giác gì.
Nhà vua nước Trịnh nghe được chuyện như thế thì buồn bực thở thở dài nói: “Chuyện máu trên má chảy xuống thì có thể quên được, thế thì tại sao không đem các mưu lược khác mà quên đi chứ ?”
(Liệt tử: Thuyết phù; Hàn Phi tử: Dụ lão)
Suy tư 57:
     Con người ta khi đã có ý đồ ăn cướp thì sẽ quyết tâm ăn cướp khi có cơ hội đến, có ý đồ làm hại người khác thì sẽ làm hại khi cơ hội đến, có ý đồ chơi xấu người khác là sẽ chơi xấu khi có cơ hội. Ý đồ là tên nội công bên trong tâm hồn và cơ hội là tên ngoại công bên ngoài bởi hoàn cảnh, cả hai đều là sản phẩm của ma quỷ tạo nên để làm cho con người trở thành công cụ chống lại tình yêu của Thiên Chúa nơi con người và trong vũ trụ.
     Có những người đang sống tốt lành bổng nhiên trở thành kẻ độc ác, bởi vì những bất công đang đè nặng trên họ và gia đình; có những người thường hay giúp đỡ người khác nhưng đột nhiên trở thành kẻ ích kỷ, bởi vì lòng tốt của họ bị lợi dụng cách trắng trợn; có những người vui vẻ hoạt bát nhưng đột nhiên trở thành kẻ trầm uất cau có, bởi vì họ thấy những bất công do những người vô tài bất tướng gây ra hằng ngày trong xã hội này...
     Người Ki-tô hữu biết dùng Lời Chúa để soi sáng tâm linh và cuộc sống của mình, cho nên họ không để nội tâm bị chi phối bởi hoàn cảnh xấu bên ngoài, nhưng luôn làm theo lời dạy của Chúa, để chính họ trở thành công cụ đem lại hòa bình và hạnh phúc giữa một xã hội luôn có nhiều bất công và hận thù.
58.   ÔM CÂY ĐỢI THỎ
Nước Tống có một nông phu, một hôm cũng bình thường như mọi hôm ông ta đi ra đồng chuẩn bị làm ruộng, có một con thỏ nghe tiếng chân đi của ông nông phu nên cất giò phóng nhanh. Trong lúc hoảng loạn và cũng không chú ý con đường phía trước như thế nào, nên phóng mạnh tông vào một gốc  cây bên ruộng nên gãy cổ chết ngay tại chỗ.
Người nông phu tự nhiên được một con thỏ, rất là sung sướng, ông ta nghĩ rằng: “Chỉ cần mỗi ngày ta ra giữ ở nơi gốc cây này, không chừng ngày ngày có thể nhặt được thỏ sao ?”
Quả thật ông ta không màng gì đến làm ruộng nữa, ngày ngày đợi nhặt thỏ, kết quả là không những không có thỏ để nhặt, mà lại còn bị người ta chế giễu nhạo cười.
(Hàn Phi tử: Ngũ đố)
Suy tư 58:
      Ôm cây đợi thỏ cũng ám chỉ đến những người cứ tưởng cơ hội luôn xảy đến mỗi ngày cho mình, cho nên họ luôn đợi chờ cơ hội đến mà không làm gì cả, họ lãng phí thời gian, lãng phí công việc, lãng phí sức lao động, và lãng phí ngay cả...cơ hội làm việc của mình.
Có một vài người Ki-tô hữu cũng ôm cây đợi thỏ, tức là ngày ngày vẫn cứ phạm tội, bỏ bê công việc bổn phận của mình rồi nói: “Thế nào Chúa cũng tha tội vì mình là con cái của Ngài”, họ đợi ân sủng của Chúa trong khi vẫn cứ phạm tội mà không hối cải, thật tội nghiệp cho họ quá chừng.
Tất cả mọi người Ki-tô hữu đều biết, Thiên Chúa không bao giờ ban ơn cho những người lười biếng làm việc lành và lười biếng lao động, nhưng Ngài sẽ ban ơn cho những người cố gắng chu toàn công việc của mình.
“Ôm cây đợi thỏ” là suy nghĩ và hành động của những người Ki-tô hữu học giáo lý nửa vời, và của những người ôm ảo tưởng mà không làm gì cả.
59.   TRỜI MƯA TƯỜNG ĐỔ
Nước Tống liên tục mấy ngày liền trời mưa xối xả, nhưng ngày hôm nay trời hừng nắng, có một chủ nhà phát hiện bức tường trong nhà ngập nước bị sập. Bởi vì nhà ông ta rất giàu có, nên con trai của ông ta nói: “Mau kêu thợ đến sữa lại bức tường, bằng không thì nhất định kẻ trộm sẽ đến lấy sạch đồ trong nhà đấy.”
Hàng xóm có một ông già vừa đi tản bộ qua đó, thấy bức tường của ông ta bị sập nên cũng nói như thế.
Quả nhiên, ngay tối hôm đó kẻ trộm mở cửa vào, tất cả của cải trong nhà đều bị cướp rất nhiều, ông chủ ấy cảm thấy con mình rất thông minh, dự liệu như thần, nhưng lại hoài nghi mãnh liệt ông già hàng xóm bên cạnh giở trò ăn trộm !
(Hàn Phi tử: Thuyết nan)
Suy tư 59:
      Bức tường bị sập đương nhiên là phải xây lại bằng không thì sẽ bị trộm đến trộm đồ, nhất là gia đình lại giàu có, đó là chuyện bình thường đứa con nít cũng hiểu, có gì mà khen con mình thông minh dự liệu như thần ! Khen con mình thông minh nhưng lại hoài nghi hàng xóm lấy trộm đồ, chuyện này thì con nít không nghĩ đến, nhưng người vùa có lòng tham vừa có bụng dạ hoài nghi thì luôn nghĩ đến, bởi vì của cải của họ ở đâu thì lòng dạ họ ở đó.
     Có một vài người Ki-tô hữu cũng có lòng hoài nghi như thế, họ hoài nghi lòng dạ con người đã đành, mà còn hoài nghi cả lòng nhân từ yêu thương của Thiên Chúa:
-       Họ hoài nghi Thiên Chúa không hiện hữu, bởi vì cuộc sống của họ sao mà khổ quá vậy: họ quên mất mình là con Thiên Chúa, Đấng tạo dựng đất trời.
-       Họ hoài nghi Thiên Chúa chỉ là sản phẩm do con người làm nên, vì họ cầu xin hoài mà không được như ý: họ đã đánh mất đức tin của mình để theo chủ nghĩa vật chất, mà vật chất thì chỉ là nay còn mai mất, nhưng Thiên Chúa thì tồn tại muôn đời.
-       Họ hoài nghi Giáo Hội Chúa chỉ là một tập đoàn tôn giáo không hơn không kém, bởi vì họ thấy có những người Ki-tô hữu sống bê bối, thấy có những linh mục và tu sĩ sống không xứng đáng với chức vụ: họ quên mất Giáo Hội Chúa vừa là thần thiêng vừa là con người, bởi vì họ không bao giờ cầu nguyện cho Giáo Hội và cho các mục tử của họ.
Hoài nghi là bày tỏ một tâm hồn bất an và đôi khi kiêu ngạo, bởi vì họ đem suy tư của con người để hiểu biết chuyện trên trời mà không có sự tin tưởng vào lời dạy của Chúa Giê-su qua Giáo Hội của Ngài.
Những Ki-tô hữu như thế thì cũng sẽ có ngày sụp đổ trong chua chát muộn màng...

60.   HÀ THỊ DÂNG NGỌC
Người nước Sở họ Hà tìm được viên đá thạch ở trong núi, ông ta có cặp mắt biết thưởng thức đá ngọc, chỉ cần mài giũa thêm chút xíu thì đá thạch nhất định biến thành viên ngọc quý giá hảo hạng, cho nên ông ta đem viên đá ngọc ấy dâng cho Sở Lệ vương.
Lệ vương mời thợ giám định ngọc đến, thợ giám định ngọc nói đó chỉ là một viên đá bình thường mà thôi, Lệ vương lập tức kêu người chặt chân trái của Hà Thị để trừng phạt ông ta tội nói dối nhà vua. Hà Thị bi phẫn ôm đá ngọc ra về.
Lệ vương chết rồi thì lập Võ vương kế nghiệp, Hà Thị lại vào dâng đá ngọc, lần này ông ta lại bị chắt mất chân phải.
Võ vương chết thì lập Văn vương kế nghiệp. Hà Thị ôm tảng đá ngọc ấy ngồi dưới núi Sở không ba ngày ba đêm, khóc đến nổi mắt chảy ra máu, Văn vương sai người đi hỏi ông ta: “Người bị chặt chân trong thiên hạ rất nhiều, tại sao ngươi khóc bi thương đến như vậy ?”
Hà Thị đau khổ nói: “Không phải tôi khóc vì cái chân của mình, mà là khóc vì viên ngọc đá rất quý lại bị coi là cục đá, người quân tử thành tín thị bị nói là kẻ lừa dối, đó mới là nguyên nhân khiến tôi phải đau khổ mà khóc đó.”
Văn vương bèn cho người gọt giũa viên đá ngọc, quả nhiên được một viên ngọc bích đẹp đẽ vô song, nên đặt tên là “ngọc Hà Thị”.
(Hàn Phi tử: Hà thị)

Suy tư 60:
      Người quân tử thành tâm thiện chí thì thời nào cũng bị hiểu lầm, bị đì cho sói trán, bị đày.v.v...là bởi vì người quân tử chính nhân thì luôn làm theo lương tâm của mình, mà quan quyền bạo lực thì luôn làm trái với lương tâm, nên nhìn người quân tử không “thuận” mắt của mình...
     Người Ki-tô hữu qua mọi thời đại đều bị quan quyền và những kẻ thiển cận bách hại, bỏ tù, xử trảm, tử hình, nhưng Ki-tô thì vẫn là cứ Ki-tô hữu, họ chính là những chính nhân quân tử của mọi thời đại luôn nói lên sự thật, không phải cho mình mà thôi, nhưng là cho tha nhân, và nhất là vì danh Chúa Giê-su, Đấng đã dám nói sự thật trước mặt quan tổng trấn Phi-la—tô, và do đó mà họ luôn bị những kẻ đứng về sự ác, gian dối và kiêu ngạo lên án bách hại.
     Lệ vương và Võ vương đều không thấy giá trị của viên ngọc đá nên đã chặt chân của Hà Thị, nhưng viên đá ngọc vẫn là viên ngọc quý báu.
Các vua chúa quan quyền thế gian vì không nhìn thấy những đóng góp tích cực của người Ki-tô hữu nên coi họ là kẻ thù, không nhìn thấy Đấng mà họ tôn thờ là Thiên Chúa thật nên đã bách hại họ và giết chết họ, nhưng Thiên Chúa muôn đời vẫn là Thiên Chúa, người Ki-tô hữu thì vẫn mãi mãi là người Ki-tô hữu: họ bị dồn ép tứ bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt[1].
61.   DŨNG THÌ QUÝ MÀ LÝ THÌ RẼ
Yến tử là thừa tướng nổi tiếng của nước Tề, rất thanh liêm tiết kiệm. Một hôm, Tề Cảnh công đi đến nhà ông ta, nhìn thấy môi trường nơi ở của ông ta không tốt, bèn nói: “Nhà của ông thật quá nhỏ, lại gần bên chợ, môi trường lại quá ồn ào, chi bằng dời nhà qua bên khu vườn trồng cây long não ấy !”
Yến tử chối từ nói: “Nhà tôi nghèo, ở gần bên chợ thì thuận tiện đôi chút.”
Tề công cười, hỏi: “Nhà của ông đã ở gần bên chợ, thế thì ông có thuộc lòng giá cả của các hàng hóa chứ ?”
Yến tử trả lời: “Dũng thì đắc, lý thì rẽ.”
“Dũng” là một loại giày chế cách đặc biệt, chuyên dùng cho người bị tội chặt chân mang; “lý” là giày dành cho người bình thường mang. Hồi ấy hình phạt mà Tề Cảnh công quy định rất là nghiêm khắc, rất nhiều người vì đó mà bị hình phạt chặt chân, tức là bị chặt từ đầu gối trở xuống. Yến tử nói như thế thực ra là khuyên răn Tề Cảnh công, muốn ông ta suy nghĩ lại những hình phạt mà ông ta đã phán định.
Quả nhiên, Cảnh công vừa nghe thì biến sắc mặt, nói: “Có lẽ ta đã quá tàn bạo.” Sau đó thì bỏ bớt năm loại hình phạt nặng.
(Hàn Phi tử: Nan nhị)
Suy tư 61:
      Căng quá thì đứt, dùn quá thì yếu không làm gì được; nghiêm quá thì ai cũng sợ, hiền quá thì người coi thường, cho nên hể là người làm công tác giáo dục thì biết cách trung dung giữa căng và dùn, giữa nghiêm và hiền, để người được giáo dục không sợ cái nghiêm khắc và cũng không có ý coi thường sự hiền hòa. Chúa Giê-su đã làm như thế khi giảng dạy dân chúng, Ngài dạy như Đấng có quyền uy.
     Có nhiều người Ki-tô hữu sợ cha sở như sợ...cọp, thấy ngài đàng kia thì đàng này “lủi” đi chỗ khác; có giáo dân nghe cha sở hỏi chuyện thì run như thằn lằn đứt đuôi. Tại sao vậy ? Thưa là vì có một vài cha sở quá nghiêm khắc: nghiêm khắc khi trong nhà thờ đã đành, mà còn nghiêm khắc khi tiếp xúc với giáo dân, nghĩa là khi không làm lễ thì cũng có thái độ, bộ tịch đạo mạo đến nổi chẳng giáo dân nào đến thưa chuyện. Lại có những giáo dân coi thường “ông cha”, bởi vì “ông cha” quá hòa đồng với giáo dân mà quên mất mình là linh mục: các ngài cũng ngồi chung nhậu nhẹt “quắc cần câu” với đám thanh niên, các ngài cũng ăn nói đao to búa lớn như những con chiên ghẻ...
     Thật hiền hòa khi việc giáo dân làm không lỗi đức công bằng, không nghịch cùng đức tin, không gây gương mù gương xấu thì nên cổ võ khuyến khích, đừng vì nói mình là cha sở mà cấm cản mọi đề nghị của giáo dân. Thật nghiêm khắc khi có giáo dân coi thường Mình Thánh Chúa, làm những điều nghịch cùng đức tin hay nghịch với luân lý Ki-tô giáo.
     Nhưng, tiên vàn cần phải có đức yêu thương và khiêm tốn, bởi vì nếu không có yêu thương và khiêm tốn thì sẽ trở thành người khắc nghiệt như Tề Cảnh công, chỉ biết luật mà không biết hoàn cảnh của bá tánh...
62. HỎI TRỌNG PHU
      Tề Hoàn công dùng Quản Trọng làm thừa tướng để giúp ông ta thành tựu đại sự trong việc tranh bá thiên hạ, và để bày tỏ sự tôn trọng nên Tề Hoàn công dùng chữ “trọng phụ” để xưng hô với Quản Trọng.
     Một lần nọ, có khách của nước Tấn đến nước Tề để bái hội, quan sứ phụ trách việc lễ tân đến xin chỉ thị của Tề Hoàn công nên dùng nghi lễ nào để tiếp đãi, Hoàn công trả lời: “Hỏi trọng phụ.”
     Quan sứ hỏi ba lần liên tiếp thì cũng được Hoàn công  ba lần trả lời như thế, những người trong cung đều vui vẻ trêu đùa với nhau nói: “Làm vua đúng là thoải mái thật, lời nói thứ nhất là “hỏi trọng phụ”, lời nói thứ hai cũng là “hỏi trọng phụ”, lời nói thứ ba cũng vẫn là “hỏi trọng phụ”.
     Hoàn công trả lời: “Không phải có người nói như thế sao ? Khi nhà vua đi tìm nhân tài thì bỏ ra rất nhiều tinh thần sức lực và tâm trí, chọn lựa kỷ càng, một khi tìm được nhân tài rồi, khi sử dụng thì có thể tiết kiệm được lực lượng. Trong quá trình ta đi tìm kiếm trọng phụ thì bỏ ra rất nhiều công sức, sau khi được trọng phụ thì tại sao không tiết kiệm lực lượng chứ ?”
(Hàn phi tử: Nan nhị)
Suy tư 62:
      Có nhiều thủ trưởng cơ quan vì sợ mất ảnh hưởng hoặc không tin tưởng cấp dưới làm việc, nên ôm đồn nhiều việc, việc gì cũng nhúng tay vào, dù cho đó không phải là chuyên môn của mình, cho nên thường than mệt và cau có bực bội khi tinh thần không thoải mái; lại có người không muốn giao việc cho người có chuyên môn, bởi vì họ cứ sợ cấp dưới tài giỏi hơn mình. Có nhân tài mà không trao việc cho họ làm thì giống như dao nhọn không dùng, có ngày sẽ rỉ sét cùn cụt; có nhân tài mà không tin tưởng vào họ thì nhân tài sẽ bỏ mà đi; có nhân tài mà không kiếm việc cho họ làm, thì sẽ có ngày nhân tài sẽ trở thành mối đe dọa cho công việc của mình.
     Tề Hoàn công đã hao tốn rất nhiều tinh thần và sức lực để tìm cho được Quản Trọng, và giao phó tất cả mọi công việc triều chính cho ông ta, thế mới biết tìm được người tài rồi tin tưởng giao việc cho họ là cả một sự tin tưởng tuyệt đối, đúng là Tề Hoàn công đã nhìn xa thấy rộng.
Mười hai tông đồ là những con người rất yếu đuối, hoài nghi, ít học, nóng tính, bộc trực nhưng vẫn được Chúa Giê-su chọn và thành lập Giáo Hội của Ngài trên các ngài. Tại sao vậy ? Thưa vì Chúa Giê-su đã yêu thương họ, đã nhìn thấy sự yếu đuối của các ngài, và nhất là đã tin tưởng vào các ngài...
Tin tưởng là nền tảng căn bản để hợp tác, xây dựng và phát triển.
63.   TRIỆU GIẢN TỬ DẪN BINH
Triệu Giản Tử nước Tấn thống lĩnh quân đội đi đánh nước Ngụy, các binh sĩ núp sau những tấm khiên thuẩn rất cứng làm bằng da trâu, dàn trận nơi chỗ mà cung tên và đạn của nước Ngụy bắn không tới, bao vây bên ngoài thành của nước Ngụy.
Triệu Giản Tử ở phía sau đánh trống thúc giục chiến sĩ tiến lên phía trước, nhưng đội ngũ không chút động tĩnh. Triệu Giản Tử nói: “Các chiến sĩ của tội đã mệt mỏi rồi.”
Chúc Quá bèn nói với Triệu Giản Tử: “Tôi nghe nói chỉ có quan trường mới không biết dụng binh, chiến sĩ không phải là mệt nhọc. Cùng dùng quân nước Tấn mà Hiến công đánh thắng mười hai lần, Huệ công bị quân nước Tần công đánh trong nước, nhưng Văn công lại năm lần đánh bại quân Sở.”
Thế là Triệu Giản Tử triệt bỏ các khiên thuẩn, đứng trong đội ngũ phía trước đánh trống. Các chiến sĩ rất cảm động, ào ạt tiến tới và đánh bại nước Vệ.
(Hàn Phi tự: Nan nhị)
Suy tư 63:
      Vị tướng giỏi không chỉ là võ nghệ hơn người, cũng không hẳn là điều binh bố trận, mà còn là giỏi về tài khơi dậy sự đồng cảm của quân lính giữa chiến trường, tức là biết đồng cam cộng khổ với quân lính.
Cũng là ki-tô hữu như nhau, nhưng người này thì thánh thiện đạo đức, còn ngươi kia thì sống như người ngoại giáo, nguyên nhân là do những người có trách nhiệm giáo dục như thế nào; cũng là trẻ em như nhau, nhưng đứa này thì lễ phép đáng yêu, đứa kia thì cứ vòi vĩnh háo thắng, đó là vì do giáo dục của cha mẹ trong gia đình...
Làm người lớn có trách nhiệm trong gia đình và ngoài xã hội thì cũng như là vị tướng ra trận, không phải là dọa nạt, hứa lèo, chém đầu, để răn đe con cái, hoặc giáo dục công dân, nhưng là phải lấy mình làm gương sáng trước, phải đi đầu, phải đồng cam cộng khổ với bá tánh, thì gia đình và xã hội mới an bình hạnh phúc và phát triển, bằng không thì chỉ gây nên lòng ghen ghét căm thù, phân biệt giai cấp mà thôi.
Chúa Giê-su là mẫu gương sáng cho những vị “tướng” thời xưa cũng như thời nay: Ngài nói và Ngài đã làm như mình nói, Ngài giảng dạy và Ngài đã thực hành những điều mình đã giảng dạy...

64.   NGƯỜI NƯỚC TỀ MỜI HÀ BÁ
Có một người nước Tề nói với Tề vương: “Vương thượng, Hà bá nắm quyền quản lý sông ngòi là vị thần rất quan trọng, tại sao ngài không thử gặp ông ta xem sao, tôi có cách để giúp cho ngài hội kiến với hà bá.”
Tề vương trong lòng suy nghĩ được gặp mặt thần là một việc vẻ vang, bèn rất phấn khởi gật đầu. Người nước Tề ấy mở một quảng trường ở bên sông, lấy đất đắp cao thành một tế đàn và mời Tề vương lên đàn để quan sát.
Qua một lúc sau, trong nước nổi lên một con cá, người nước Tề ấy phấn khởi nói: “Hà bá đến rồi.” Tề vương cũng la lên như ông ta.
(Hàn Phi tử: Nội chư thuyết thượng – thất thuật)
 
Suy tư 64:
      Làm người lớn thì biết suy xét trước khi hành động chứ không thể chỉ nghe rồi làm; làm người có trách nhiệm thì không những phải suy xét, nhưng còn phải bàn hỏi với những cố vấn khôn ngoan của mình, trách nhiệm càng lớn thì suy xét và bàn hỏi càng phải kỷ càng sâu xa hơn, bằng không thì hậu quả khó mà lường được...
     Có một vài người học hành chẳng đến đâu, kinh nghiệm cũng chẳng có, nhưng nhờ phe cánh mà được bầu vào chức vụ này chức vụ nọ, nhưng khi làm việc thì chỉ biết nói a dua theo những chỉ đạo của người khác, mà người khác thì ở đâu xa xôi không sát cánh với thực tế, nên vì những người chỉ biết nói a dua (không lập trường) quá nhiều, nên chính nghĩa bị lấn át, thế là gây chia rẻ, thù hận, bất công và cuối cùng thì tan rã...
Tề vương không thấy hà bá khuôn mặt hình dáng ra sao cả, chỉ a dua hét to lên khi người nước Tề chỉ con cá nói là bá đến, kết quả là vừa làm mất uy tín của mình, lại làm trò cười cho thiên hạ, và đau nhất chính là bị lừa một vố.
Những người nói a dua cũng như thế mà thôi, như Tề vương mời hà bá. Hay ho gì mà vênh vang chứ !
65.   NGƯỜI LÙN MƠ THẤY ÔNG TÁO
Vệ Linh công có một sủng thần tên là Di Tử Hà, dưới sự nâng đở của quân vương nên ông ta được nắm giữ quyền hành lớn, khiến cho nhiều người bất mãn.
Một hôm, có một người lùn đến yết kiến Vệ Linh công, anh ta nói: “Tôi nằm mơ đã ứng nghiệm rồi.” Vệ Linh công hỏi anh ta nằm mơ thấy gì ? Anh lùn nói: “Tôi nằm mơ thấy ông táo, nhưng hóa ra là yết kiến quân vương.”
Vệ Linh công không vui, nói: “Người ta đều nói yết kiến quân vương thì nằm mơ sẽ thấy mặt trời, sao ngươi lại mơ thấy ông táo ?”
Người lùn trả lời: “Mặt trời chiếu khắp thiên hạ, không thể bị thứ gì che khuất được. Còn ông táo thì chỉ cần một người đứng phía trước đốt lửa, thì cái đầu người đứng sau bị che khuất. Tôi nghĩ, có lẽ có người che khuất quân vương, cho nên tôi mới nằm mơ thấy ông táo mà không mơ thấy mặt trời.”
Vệ Linh công bây giờ mới nhận thức sâu sắc được tai họa do Di Tử Hà tạo ra, thế là tống cổ ông ta đi, và thay đổi tuyển dụng những người hiền đức tài năng khác.
(Hàn Phi tử: Nan tứ)
Suy tư 65:
      Không có gì an toàn cho bằng ở chung quanh mình với những người thân cận, và cũng không có thứ giặc nào nguy hiểm cho bằng ở với người thân cận vây quanh, bởi vì nếu người thân cận là người hiền tài thì vận nước đi lên và bản thân mình cũng được bằng an, nhưng nếu người thân cận vô tài ác đức tham nhũng, thì vận nước đi xuống, và bản thân mình cũng mang nhiều tiếng không tốt, và có khi mất mạng như chơi.
     Người thân cận làm việc bên mình là những ai ?
-       Là anh em bà con ruột thịt ham tiền ham danh nên dễ bán đứng mình.
-       Là những bạn bè thân tín ham tiền ham của, nên dễ lợi dụng tiếng tăm của mình để làm những chuyện phi pháp, nên dễ hại mình.
-       Là những cận thận nịnh nọt tâng bốc, lợi dụng sự tín nhiệm của mình để hạch sách dân lành, nên dễ dàng làm cho mình mất uy tín.
-       Là những ông quan địa phương hống hách kiêu căng, chỉ biết vòi vĩnh dân lành, chứ không biết nghe dân than khổ vì sự hà khắc và những nhiễu của họ, nên dễ dàng làm hại đến uy tín và danh dự của mình...
Nịnh thần, gian thần, bạn bè xấu hoặc bà con anh em hay ganh tị là những người cần phải tránh xa không nên hợp tác, bởi vì không trước thì sau họ cũng sẽ hại mình, mà cái hại trước tiên là không làm cho mình thấy được thực tế phủ phàng của đời sống xã hội, vì bị cái đầu của họ che lấp mất rồi...
Chúa Giê-su đã răn dạy các môn đệ của mình hãy tránh xa men Pha-ri-siêu và men Hê-rô-đê[2], là những người chỉ biết mình mà không biết người, chỉ biết vỏ lề luật mà không biết tâm của lề luật là yêu thương, chỉ biết tìm kẻ hở và khuyết điểm của người khác mà không nhìn thấy khuyết điểm và thói xấu của mình, chỉ biết tố cáo mà không biết im lặng suy tư, chỉ biết xoi mói mà không biết xây dựng...
66.  BA NGƯỜI THÀNH CON HỔ
Thái tử nước Ngụy phải bị đưa qua nước Triệu làm con tin, Ngụy vương phái Bành Thông tháp tùng đi trước. Trước khi đi, Bành Thông đến yết kiến Ngụy vương, hỏi: “Giả như có một người nói trên phố lớn có một con hổ, đại vương có tin không ?”
Ngụy vương nói: “Không tin.”
-       “Nếu lại có người thứ hai đến nói với ngài trên phố có con hổ, đại vương có tin không ?”
Ngụy vương vẫn nói: “Không tin.”
-       “Nhưng người thứ ba cũng nói trên phố có hổ, đại vương có tin không ?”
Ngụy vương nói: “Như vậy thì ta tin.”
Bành Thông nói: “Trên phố lớn rõ ràng là không có hổ, nhưng chỉ cần ba người nói như thế, thì mọi người đều tin và cho là thật, bây giờ Hàm Đan cách nước Ngụy thì xa hơn phố lớn rất nhiều, mà người phỉ báng tôi thì nhất định là vượt quá con số ba người, xin mời đại vương nên kiểm tra chứng cứ cho rõ ràng.”
Đợi cho Bành Thông từ Hàm Đan trở về, thì quả nhiên như ông ta lo lắng, Ngụy vương cũng không trọng dụng lại ông ta nữa.
(Hàn Phi tử: Nội trữ thuyết thượng – Thất thuật)
Suy tư 66:
     Trên phố đương nhiên là không có con hổ nào cả, nhưng một người nói có, hai người nói có, ba người nói có thì chắc chắn là mọi người đều tin là trên phố có hổ. Để bôi nhọ một người hoặc bóp méo sự thật, thì người ta chỉ cần phao tin trên phương tiện đại chúng, rỉ tai người này chuyền qua tai người khác, thì cuối cùng người ta cũng phải tin là chuyện có thật...
     Bành Thông hiểu rất rõ điều đó, nhưng cuối cùng cũng bị thất sủng, về vườn làm ruộng, bởi vì kẻ ghét ông ta thì nhiều, mà lại ở kề cận bên Ngụy vương, Bành Thông “thua” là phải.
     Có một vài người Ki-tô hữu cũng bị “thua” khi đức tin của mình bị yếu kém, họ “thua” khi nghe người này nói chỗ này có cái đền linh thiêng đến đó cầu xin thì được; họ “thua” khi vì làm ăn thua lỗ mà nghe lời bạn bè đi chùa chiền cúng bái để được khá giả; họ “thua” khi thấy vật chất quá đầy đủ mà không cần phải đi lễ nhà thờ...
     Tin vào Lời Chúa, dựa vào Lời Chúa để làm cho đời sống của mình phong phú hơn bằng những ơn lành mà Chúa ban cho, dù gia đình hay bản thân đang gặp nhiều thử thách, bởi vì Thiên Chúa không phải là Ngụy vương thích nghe lời dèm pha của người khác mà không trọng dụng Bành Thông, nhưng Ngài chính là Thiên Chúa tình yêu và là Cha của tất cả mọi người chúng ta.
67.  TRỘM VÀNG HỒ LỆ THỦY
Ở phía nam nước Sở có con sông Lệ Thủy, trong hồ nước sản sinh ra cát vàng, chính phủ quốc hữu hóa nó và nghiêm cấm bá tánh tự tiện đến đãi vàng, người vi phạm pháp lệnh thì chỉ cần bắt được là lập tức phân thây trên phố chợ.
Nhưng, sau khi tin “vàng sinh trong nước” được truyền đi thì vẫn có rất nhiều người đến đãi trộm vàng, người đãi trộm vàng bị quan phủ bắt rất nhiều, sau khi xử tử thì đem toàn bộ quăng vào trong sông Lệ Thủy, làm cho nước Lệ Thủy kẹt cứng, nhưng người đãi trộm vẫn không ngừng xuất hiện.
Hình phạt phân thây không cản được người đến đãi trộm vàng, chỉ là bởi vì lưu vực của hồ Lệ Thủy rất rộng lớn, địa hình hai đầu bờ không bằng phẳng, muốn trốn tránh tai mắt của quan binh, thì hoàn toàn không khó khăn gì.
(Hàn Phi tử: Nội trữ thuyết thượng-Thất thuật)
Suy tư 67:
      Hình phạt phân thây không ngăn cản được người đến đãi trộm vàng, là bởi vì vàng có một sức hút mãnh liệt hơn cả sự chết, là bởi vì vàng sáng chói làm mờ mắt con người không thấy được sự sống thì cao quý rất nhiều so với vàng bạc châu báu ở thế gian này.
     Hình phạt phân thây không ngăn cản được người đến đãi trộm vàng, là bởi vì lòng tham của con người như thùng không đáy không biết lúc nào thì đầy, cho nên bất chấp cả sự chết để giấc mơ giàu sang được thực hiện dù cho có bị phân thây...
     Chúa Giê-su đã tiên báo và nhắc nhở cho chúng ta biết là kho tàng của chúng ta ở đâu, thì lòng dạ chúng ta ở đó[3]. Người Ki-tô hữu hiểu được lời dạy trên đây của Chúa Giê-su, nên luôn cầu xin Chúa ban cho họ được hằng ngày dùng đủ[4], bởi vì khi biết được mình đầy đủ rồi thì họ không cần tham lam thứ gì nữa.
Nhưng ở trên đời có mấy ai biết mình đã đầy đủ rồi ?
Thưa, chỉ có những người yêu mến Lời Chúa và thực hiện Lời Chúa trong cuộc sống của mình, bởi vì đối với họ, có Chúa là có tất cả, là quá đầy đủ rồi.
68.  THÀNH TẢ THỊ ĐỔI TÙ PHẠM
Nước Vệ có một tù phạm chạy qua nước Ngụy, gặp duyên nên ở Tế Hội đã giúp trị khỏi bệnh cho hoàng hậu của Ngụy Tuyên vương, được Ngụy vương đối đãi tử tế.
Vệ Tự Quân nghe được thì phái người đem năm mươi cân vàng đến chuộc anh ta lại. Đi liên tiếp năm lần mà Ngụy Tuyên vương không đáp ứng, Vệ Tự Quân bèn nói sẽ dùng thành Tả Thị để trao đổi tù phạm, các đại thần trong triều nhao nhao cấm cản.
Tự Quân nói: “Các ông không hiểu, trị nước nếu không chú ý đến những điểm nhỏ thì pháp luật không thể quán triệt, như thế dù cho quốc gia có mười thành Tả Thị chăng nữa, thì cuối cùng cũng sẽ mất đi.”
Ngụy Tuyên vương nghe mấy lời ấy bèn đem tù phạm tống về nước Vệ, cũng không nhận vàng bạc và thành Tả Thị, mục đích là không hy vọng Vệ Tự Quân trị nước giỏi được.
(Hàn Phi tử: Nội trữ thuyết thượng-Thất thuật)
Suy tư 68:
      Có người khi ở quê hương mình thì thành kẻ tù phạm, nhưng chạy qua nước khác thì được trọng dụng; và lại có người khi ở quê hương mình thì được công hầu khanh tước, nhưng chạy qua nước khác thì trở thành kẻ tù tội, nô lệ. Đó chẳng qua là luật lệ và hoàn cảnh của hai bên không giống nhau mà thôi...
Có người dưới mắt người này thì là kẻ ba trợn, nhưng dưới mắt người khác thì là kẻ thông minh hóm hỉnh, bởi vì ba trợn hay thông minh hóm hỉnh là do cái tâm của người nhìn mà ra: người hiền từ thì nhìn ai cũng thấy dễ thương, người cộc cằn thô lỗ thì nhìn ai cũng thấy ba trợn, người hay hồ nghi thì nhìn ai cũng giống như người ăn cướp, người có đầu óc giai cấp cách mạng thì nhìn ai cũng thấy phản động cần phải đề phòng.v.v...    
Con người ta ai cũng có những ưu điểm và khuyết điểm, hãy nhìn cái ưu điểm của họ để hợp tác, để chia sẻ và thăng tiến, bởi vì nếu cứ nhìn khuyết điểm của người khác thì chúng ta sẽ biến họ thành người xấu đáng bị bỏ tù.
Chúa Giê-su không bao giờ nhìn thấy tội lỗi của chúng ta để tha tội, nhưng Ngài nhìn thấy những điểm tích cực trong những khuyết điểm để tha tội và ban ơn cho chúng ta.
Hãy học hỏi nơi Chúa Giê-su: có tấm lòng bao dung.
69.  KHỔNG TỬ HẠ LỆNH CỨU HỎA
Ngày hôm ấy, nhà vua nước Lỗ dẫn đầu quần chúng đến Tích Trạch phía bắc đô thành cử hành hoạt động săn bắn. Theo truyền thống, đầu tiên họ phóng lửa đốt cỏ cây, sau đó mọi người tha thiết muốn thi thố tài năng, đợi thú săn bị ngạt lửa chạy ra để thi triển thân thủ.
Nhưng mùa đông gió bắc thổi rất mạnh, thế lửa vừa bùng lên nên không thể dập tắt, tận mắt nhìn thấy lửa muôn thiêu rụi phía nam đô thành. Lỗ Ai công rất sợ hãi nên ra lệnh cho mọi người cứu hỏa, nhưng lòng của mọi người đều để nơi cuộc đi săn thú, không có ai để ý đến thế của lửa, lửa lớn cũng từ từ không tắt.
Khổng tử kiến nghị với Ai công, nói: “Đại vương, người hưởng thụ cuộc săn bắt thú không có xử phạt, người khổ cực cứu hỏa không có thưởng, cho nên lửa vẫn cháy mạnh. Bây giờ tình trạng rất khẩn cấp, dùng thưởng thì không kịp nữa, hơn nữa nếu người cứu hỏa đều muốn thưởng công, tài sản của quốc gia đã dùng hết sạch nên cũng không đủ để thưởng, cho nên bây giờ chỉ cần hình phạt thì có thể được.”
Ai công nghe rồi thì lập tức kêu Khổng tử truyền lệnh: “Người không cứu hỏa thì chiếu theo trách nhiệm và hành vi về tội chiến bại đầu hàng địch nhân, trị theo tội trách nhiệm hành vi tự ý xông vào vườn thượng uyển.”
Mệnh lệnh chưa kịp truyền đến Tích Trạch, thì lửa đã bị dập tắt rồi.
(Hàn Phi tử: Nội trữ thuyết thượng-Thất thuật)
Suy tư 69:
      Giữa thú vui chơi và sự nguy hiểm thì ai cũng thích thú vui chơi hơn; giữa thiệt hại cho cá nhân và thiệt hại chung cho mọi người, thì ai cũng thích chọn lựa cái thiệt hại chung; giúp người hoạn nạn và giúp mình thì ai cũng chọn giúp mình trước mọi người. Đó chỉ là lẽ thường tình của con người mà thôi, bởi vì ai cũng có cái tôi ích kỷ, ai cũng có cái tham sân si...
     Có một vài người Ki-tô hữu hiểu rõ Lời Chúa, giảng dạy Lời Chúa và thích phê bình người khác không sống Lời Chúa, nhưng chính họ cũng không vượt qua khỏi cái tham sân si của chính mình, để bước vào ánh sáng tự do mầu nhiệm của Lời Chúa mà họ hiểu rất rõ. Họ cũng vì bản thân mà quên mất người bên cạnh, họ cũng vì bản thân mà không ra tay giúp đỡ người khác, họ vì bản thân mà –có khi- vu oan giá họa cho người khác, nên cuộc sống của họ chưa tỏa sáng được tinh thần Phúc Âm...
Khổng tử, trong tình thế cấp bách mà vẫn luận được nhân tình thế thái giữa thưởng và phạt, giữa cá nhân và xã hội, giữa có và không nên mới dập tắt được hỏa hoạn cho cả thành, đó chính là cái trí của thánh hiền.
Người Ki-tô hữu bất cứ trong hoàn cảnh nào xảy đến cho mình, thì họ vẫn luôn nghĩ đến cái cùng cực của tha nhân, để an ủi và cảm thông với họ. Đó chính là không những cứu linh hồn mình khỏi lửa hỏa ngục, mà còn giúp đỡ tha nhân tìm ra Chúa Giê-su đang hiện diện trong cuộc đời của họ.
70.  NGÔ KHỞI CÔNG ĐÁNH TẦN ĐÌNH
Ngôi Khởi là quan của nước Ngụy đóng giữ ở Tây Hồ, ở biên giới Tây Hồ có một cái hậu đình nho nhỏ của nước Tần, quân đội nước Tần đóng quân ở đó và thường chạy qua quấy nhiễu dân nước Ngụy.
Ngô Khởi rất muốn phá hủy cái hậu đình này, nhưng cái chuyện nhỏ ấy không đáng để điều động quân đội quốc gia, do đó khiến cho ông ta thêm nhức óc.
Một hôm, Ngô Khởi đem một cái càng xe để sát bên ngoài tường cửa bắc, phát mệnh lệnh: “Người đem cái càng xe này dời qua cửa nam, thì có thể được thưởng ruộng nhà.” Khởi đầu không một ai tin rằng dưới trời đất này lại có chuyện dễ làm như thế, sau đó có một người dè dặt đi làm thử, quả nhiên được thưởng.
Ngô Khởi lại dùng một bao đậu đỏ bỏ ngoài cửa đông, cũng phát lệnh như thế, lần này mọi người tranh nhau tiến lên đi làm. Ngô Khởi nhìn thời cơ đã chín mùi thì lại phát mệnh lệnh, nói: “Ngày mai phải công kích cái hậu đình của nước Tần, người tiến công hậu đình trước nhất, thì sẽ được phong làm quan đại phu, đem ruộng vườn tốt nhất thưởng cho họ.”
Qua ngày hôm sau, hiệu lệnh tiến công vang lên, mọi người tranh nhau tiến lên, không bao lâu thì cái hậu đình của nước Tần bị triệt hạ.
(Hàn Phi tử: Nội trữ thuyết thượng- Thất thuật)
Suy tư 70:
     Ngô Khởi là tướng giỏi của nước Ngụy, có đủ khôn ngoan và trí tuệ để “nhổ” cái hậu đình của nước Tần mà không cần phải dùng đến đại binh.
     Khi ma quỷ cám dỗ con người ta thì nó cũng thường dùng mưu chước như Ngô Khởi: trước hết nó nhử lòng tham của con người về tiền bạc, chức quyền và sắc dục với nhiều lý do như Chúa dựng nên cho con người hưởng dùng, Chúa không muốn tôi phải sống trong cảnh nghèo hèn, nào là Chúa dựng nên con gái là để giúp đở cho đàn ông con trai, nào là mê sắc đẹp không có gì là tội.v.v...và thế là con người ăn phải cặn bã cám dỗ của ma quỷ, khi con người ăn ngấm từ từ thì không còn sợ tội nữa và cũng chẳng còn có ý niệm về thưởng phạt đời sau nữa...
     Người Ki-tô hữu thì phải luôn sáng suốt hơn những người khác, bởi vì họ được Lời Chúa nhắc nhở cảnh cáo; người Ki-tô hữu cần phải khôn ngoan và nhạy bén hơn các người khác, bởi vì họ được Chúa Thánh Thần dạy dỗ; người Ki-tô hữu phải can đảm và anh dũng hơn những người khác, bởi vì họ có các bí tích và chuỗi Mân Côi để làm vũ khí chống trả với chước cám dỗ của ma quỷ.
     Chỉ có tỉnh thức và cầu nguyện mới khỏi sa chước cám dỗ mà thôi, bởi vì khi tỉnh thức thì có sự sáng suốt và khi cầu nguyện thì có ân sủng của Thiên Chúa.
71.  BI THƯƠNG ĐƯỢC LÀM QUAN
Sùng Môn của nước Tống có một người dân, khi cha mẹ chết, anh ta trong thời kỳ để tang vì bi thương đau khổ quá độ mà thân thể tiều tụy không tả được, biến thành người rất suy nhược.
Vua nước Tống cho rằng anh ta rất hiếu thảo nên đề bạt anh ta làm quan.
Qua năm thứ hai, trong nước Tống người để tang cha mẹ vì bi thương quá độ mà chết thì có hơn mười người, từ trước đến nay chưa hề xảy ra chuyện như thế, e rằng mọi người đều hy vọng có thể nhờ chuyện để tang mà kiếm được một chức quan để giống như người kia ở Sùng Môn vậy.
(Hàn Phi tử: Nội trữ thuyết thượng-Thất thuật)
Suy tư 71:
     Người ở Sùng Môn nước Tống khóc lóc đến hại thân là thật lòng thảo kính cha mẹ, chứ không phải vì để được làm quan mà khóc lóc tiều tụy; trái lại có những người vì để được làm quan mà khóc lóc đến nổi chức quan không có mà lại còn mất mạng sống.
     Có người khóc trong lòng và có người khóc nơi mắt, nhưng dù khóc trong lòng hay khóc nơi mắt thì cũng đều do một tấm lòng hiếu thảo cha mẹ mà ra, bởi vì có những đứa con rất thương yêu thảo kính cha mẹ nhưng khóc rất ít; lại có những đứa con khi cha mẹ còn sống thì không quan tâm chăm sóc, đến khi cha mẹ qua đời thì khóc lóc bù lu bù loa...
     Khóc thương cha mẹ là chuyện thường tình của con người, nhưng lợi dụng đám tang của cha mẹ để kinh doanh làm lợi cho mình, thì quả thật là con bất hiếu, dù cho họ có khóc lóc tiều tụy đến chết...
     Ai hiểu được thì hiểu !
72.  CẢ HAI ĐỀU HỐI HẬN
Ba nước Tề, Hàn, Ngụy cùng liên quân đánh Hàm Cốc quan của nước Tần. Trông chừng quốc gia đối mặt giữa sự tồn vong nên Tần vương nói với các khanh tướng: “Thế công của ba nước mãnh liệt, ta muốn cắt nhượng Hà Đông cho họ để đổi lấy hòa bình, các người cảm thấy như thế nào ?”
Bởi vì đây là quyết định rất quan trọng cho nên mọi người đều không dám bày tỏ ý kiến, thật ra Tần vương tự mình cũng rất do dự, cho nên mới hỏi biện pháp của mọi người.
Công tử Phiếm đáp: “Nếu vương cắt nhượng đất Hà Đông để giảng hòa, sau này nhất định sẽ hối hận mà nói: “Quân đội của ba nước đáng lẽ là muốn triệt thoái, vậy mà ta còn dâng đất cho họ.” Nếu không giảng hòa thì ba nước sau khi công đánh Hàm Cốc quan, sẽ nhất định chiếm cứ rất nhiều đất đai, lúc ấy vương cũng nhất định hối hận nói: “Vì không cắt nhượng Hà Đông, bây giờ mới biết là tổn hại quá lớn.” Giảng hòa sẽ hối hận, không giảng hòa cũng sẽ hối hận.”
Tần vương nghe xong, ngẫm nghĩ chút xíu, nói: “Đã phải hối hận thì ta cam lòng mất Hà Đông mà hối hận, quyết không đợi quốc gia bị diệt vong mới hối hận. Ta quyết định cắt nhượng Hà Đông để giảng hòa.”
(Hàn Phi tử: Nội trữ thuyết thượng-Thất thuật)
 
Suy tư 72:
      Một quyết định đúng lúc là quyết định sáng suốt, nó có thể làm cho cục diện thay đổi, có khi chuyển bại thành thắng, chuyển thế thủ thành thế tiến công, và nhất là sẽ làm cho mọi người an tâm và người dưới quyền tin tưởng mình hơn.
     Con người ta thường đứng giữa ngã ba đường trước khi quyết định làm một việc gì đó: nên yêu thương hay nên oán ghét, khi mà đối phương cứ kiếm cách “chơi” mình, hạ bệ mình ? Ăn cướp của người ta có nên trả lại không, bởi vì của ăn cướp quá “ngon lành”, trả thì uổng không trả thì tiếc công ăn cướp ? Trả thù hay tha thứ khi người ta làm thiệt hại thanh danh và vật chất của mình quá nhiều ?...Đó ngã ba đường của lương tri mà bất cứ con người nào cũng có, dù cho họ tán tận bán đứng lương tâm của mình.
     Đứng trước ngã ba đường thì người không có đức tin thường làm theo bản tính tham lam hưởng lợi của mình; người tán tận mất cả lương tri thì làm theo cái bụng và cái tham của mình; người có lương tâm thì áy náy lo âu và tìm cách làm đúng theo lương tâm chỉ bảo, và Tần vương đã làm như thế.
     Đứng trước ngã ba đường thì người Ki-tô hữu không làm càn, nhưng việc trước tiên của họ là cầu nguyện để xin ơn trợ giúp, tiếp đến là bàn hỏi với người khôn ngoan để tìm ra thánh ý Chúa và chọn lựa, sau cùng là vui vẻ thực hành những gì mà mình đã chọn sau khi đã cầu nguyện và bàn hỏi với những người khôn ngoan, dù cho việc đó có khó khăn và có khi gây đau khổ cho mình họ sẽ cũng không hối hận.
73.  BÀNG KÍNH TRIỆU CÔNG ĐẠI PHU
Thời xưa, tiểu quan chuyên coi sóc chợ búa thì gọi là thị giả, mà quan phụ trách cấp trên của thị giả gọi là công đại phu. Khi Bàng Kinh làm huyện lịnh, một hôm sai phái công đại phu dẫn đầu thị giả đến chợ để thi hành công vụ.
Họ, một đoàn vừa rời khỏi nha huyện không bao lâu thì tùy tùng của Bàng Kinh vội vàng chạy đến mời công đại phu trở về, nói rằng huyện lịnh có lời muốn nói. Công đại phu lại trở về để gặp Bàng Kính, nhưng tuyệt đối không nghe ông ta nói gì cả, chỉ đứng một bên rồi lại được phái lên đường.
Các thị giả đứng đợi trên đường cho rằng huyện lịnh nói với công đại phu những gì, nên rất đề phòng ông ta, khi thi hành công vụ cũng không dám dục nước béo cò, tham ô mưu lợi riêng.
(Hàn Phi tử: Nội trữ thuyết thượng-Thất thuật)
Suy tư 73:
      Tham nhũng và hối lộ thì thời nào cũng có, làm quan nhỏ thì hối lộ tham nhũng nhỏ, làm quan càng lớn thì tham nhũng hối lộ càng lớn hơn, thế mới biết câu nói “càng cao danh vọng, càng nhiều gian nan” thật là đúng, gian nan ở đây chính là phải chịu phán xét cách nặng nề trước mặt Thiên Chúa, về mọi hành vi của mình đã làm trong chức vụ được giáo phó...
     Sách nhiễu đời sống tâm linh của người Ki-tô hữu nhiều nhất là ma quỷ và các đệ tử của chúng nó: nó đem tiền bạc đến cám dỗ người Ki-tô hữu bỏ bê không tham dự các ngày lễ chủ nhật và lễ trọng; đem gái đẹp đến để lối kéo người Ki-tô hữu hưởng thú vui nhục dục mà không màng đến các điều răn của Thiên Chúa và những hậu quả của nó; đem danh vọng đến để chia rẽ những người Ki-tô hữu với nhau. Cho nên, Chúa Giê-su đã khôn ngoan trù liệu trước cho các môn đệ của Ngài, Ngài đã lập ra các bí tích để các tín hữu dùng chống lại các cám dỗ của ma quỷ, Ngài đã nhờ mẹ của Ngài là Đức Mẹ Maria –Đấng đồng công cứu chuộc- nhiều lần hiện ra nhắc nhở các tín hữu hảy luôn quan tâm đến phần rỗi đời đời bằng cách thay đổi cuộc sống, lần hạt mân côi và cầu nguyện luôn.
     Rồi sẽ có một ngày, Thiên Chúa sẽ kêu chúng ta ra trình diện trước mặt Ngài, không phải để hứa ban ơn hay trợ giúp gì nữa, nhưng là để phán xét. Ngài sẽ phán xét gì ? Thưa, Thiên Chúa sẽ phán xét chúng ta có làm tròn trách nhiệm và bổn phận đã được giao phó cho mình hay không...
74.  TỬ CHI ĐẢO NGÔN
Tử Chi là thừa tướng nước Yên, quyền lớn trong tay, có rất nhiều người, vì muốn được lợi nên tự nhiên sẽ nghĩ dùng mọi thủ đoạn xấu xa để kết thân với ông ta. Do đó, đối với Tử Chi mà nói, thì người bên cạnh ai nói gì có thể tin thì tin, ai nói điều gì không thể tin thì không tin, là rất quan trọng.
Có một lần, khi ông ta và các quan lại đang nói chuyện với nhau, đột nhiên giả bộ nói: “Ái dà, cái gì mới đi qua vậy hử ? Là con ngựa bạch chăng ?”
Mọi người đều nói không nhìn thấy, nhưng lại có một người đứng dậy đuổi theo, một lúc sau trở lại báo cáo: “Đúng là một con ngựa bạch.”
Tử Chi cũng biết người bên cạnh ai là người không thành thực.
(Hàn Phi tử: Nội trữ thuyết thượng-Thất thuật)

Suy tư 74:
      Càng làm lớn thì càng có nhiều người bên cạnh, người bên cạnh có thể là người nịnh hót, có thể là người đến nhờ cậy, có thể là người của kẻ thù cài vào, cũng có thể là người quân tử hoặc cũng có thể là kẻ tiểu nhân, có thể là người thành thực và cũng có thể là người dối trá...
-       Có một vài quan lớn cảm thấy thỏa mãn vì có nhiều người đến bên mình, tâng bốc nịnh bợ mình, đó là những ông quan tham nhũng, hối lộ và kiêu căng.
-       Có những ông quan lớn cảm thấy buồn và bực mình khi thấy chung quanh mình toàn là những người chỉ biết nghe biết dạ mà không biết sáng tạo, phản bác và năng động, đó là những ông quan có tinh thần cấp tiến muốn đổi mới.
-       Có những ông quan lớn hay thở dài vì thấy những bất công và bất hợp lý của cấp trên, vì thấy cấp dưới chỉ biết lo cho bản thân mà không làm tròn trách nhiệm chung, đó là những ông quan an phận có chút lương tâm để làm tròn bổn phận của mình.
-       Có những ông quan lớn bị “đì” vì dám cãi lời cấp trên, vì dám nói dám làm, vì liêm chính vô tư khi làm việc quan.
Làm quan lớn mà chí công vô tư thì cũng khó thật, bởi vì quyền lực và vật chất thì làm cho họ ngã ngựa, nhưng những người xum xoe quanh họ thì làm cho họ chết mất lương tâm của mình, mà cái chết của lương tâm chính là mắt bị mờ nhìn không thấy cái khổ của bá tánh, vì bị những người chung quanh che khuất; tâm hồn lương thiện bị ô nhiễm vì những lời nói nịnh bợ của những người xum xoe chung quanh; miệng bị bịt kín bởi những tờ giấy bạc xanh đỏ của những người xum xoe chung quanh...
Chỉ có những ai nghe lời dạy của Chúa Giê-su mới trở thành một người lãnh đạo khiêm tốn, một ông quan chí công vô tư, lời của Chúa Giê-su như sau: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em.”[5]

75.  MÔN NHÂN ĐỔ NƯỚC
Nước Tề có một trung đại phu tên là Di Xạ, ông ta thù tiếp Tề vương uống rượu một đêm một ngày, khi về rời khỏi thì say lúy túy, nên dựa nơi cửa trong cung để tỉnh táo chút xíu.
Người giữ cửa cầu xin với ông ta, nói: “Đại nhân có thể thưởng cho tôi chút rượu uống được chứ ?”
Di Xạ lớn tiếng chửi: “Mày là người dưới thấp lại dám xin quan lớn rượu uống à, cút nhanh!”
Đợi cho Di Xạ đi khỏi, người giữ cửa lấy một ít nước đổ ra bên ngoài cổng hoàng cung, mới nhìn thì giống như tiểu tiện vậy. Ngày thứ hai thì Tề vương nhìn thấy, lớn tiếng trách: “Ai tiểu tiện ở đây vậy ?”
Người giữ cửa vội vàng chạy lên trước bẩm, nói: “Tôi không biết, nhưng hôm qua trời tối, trung đại phu Di Xạ đứng ở chỗ này.” Tề vương bèn xử tử Di Xạ.
(Hàn Phi tử: Nội trữ thuyết hạ- Lục vi)
Suy tư 75:
      Chỉ một lời nói của người ngà ngà say, và vì không có một ly rượu mà tên giữ cổng thù hận vu oan cho Di Xạ mất mạng. Qua câu chuyện trên chúng ta có thể rút ra được hai điều này:
1.   Làm quan lớn thì phải rộng lượng với cấp dưới và ăn nói cho nghiêm chỉnh, bằng không thì chính thái độ và lời nói của mình sẽ hại mình.
2.   Không phải ai lòng dạ cũng như mình, làm ơn cho họ là cách đề phòng kẻ tiểu nhân tốt nhất, bởi vì lòng dạ của kẻ tiểu nhân thì không biết đến cái chung mà chỉ biết đến cái riêng cho mình, không nghĩ chuyện dài vạn dặn mà chỉ nghĩ chuyện ngắn trước mắt, không thấy xa mà chỉ thấy gần, cho nên đúng là đáng sợ vô cùng.
Chúa Giê-su đã dạy chúng ta cách đối xử với người xấu, người ác và kẻ tiểu nhân như thế này: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện anh để lấy cái áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin thì hãy cho; ai muốn vay mượn, thì đừng ngoảnh mặt đi.”[6]
     Người Ki-tô hữu thì không phân biệt kẻ tiểu nhân hay người quân tử, bởi vì ai cũng là anh em chị em của mình trong Chúa Giê-su Ki-tô, nhưng họ đề phòng và chống lại những tội ác do kẻ dữ mang lại.
76.  THIỆN PHU DÂNG THỊT NƯỚNG
Tấn Văn công chuẩn bị dùng cơm, Thiện Phu là người phụ trách chăm sóc thức ăn dâng lên thịt đã nướng chín, Văn công phát hiện trong thịt có sợi tóc, lập tức cho đòi Thiện Phụ đến nghiêm khắc trách anh ta, nói: “Trong thịt nướng của mày có sợi tóc, có phải muốn ta mắc cổ mà chết không ?”
Thiện Phu sợ hãi giật thót mình, lập tức quỳ xuống cúi đầu nói với Văn công: “Tôi có ba tội đáng chết: một là dao của tôi rất sắc bén, khi thái thịt, thịt đứt mà tóc không đứt; hai là khi xâu từng miếng thịt lại không nhìn thấy sợi tóc, nên dễ đem nó khều mất tiêu; ba là đem thịt nướng xong rồi nhưng sợi tóc thì không đốt cháy được. Cứ như thế mà nhìn, thì người hầu hạ dâng cơm cho ngài rất ghét tôi !”
Văn công bèn cho kêu người dâng cơm đến, chất vấn chút xíu thì quả nhiên là hắn ta làm, bèn đem nó ra xử tử.
(Hàn Phi tử: Nội trữ thuyết hạ - Lục vi)
77.  LÊ THƯ TRỪ KHỬ KHỔNG TỬ
Khi Khổng tử quản lý nước Lỗ thì quốc gia rất tốt đẹp, bá tánh an cư lạc nghiệp, Cảnh công của nước Tề thấy tình huống như vậy thì rất ưu tư, không hy vọng nước Lỗ trở thành cường quốc.
Lê Thư nói với Cảnh công: “Vương thượng, muốn trừ khử Khổng tử thì rất dễ, chỉ cần ngài chọn một số ca kỷ rất ưu tú rồi đưa đến nước Lỗ tặng cho Định công, bảo đảm có thể khiến cho Khổng tử tự mình rời bỏ nước Lỗ.”
Tề Cảnh công nghe theo mưu kế của Lê Thư, đem mười sáu ca kỷ tặng cho Lỗ Định công. Định công thích ca kỷ, quả nhiên không màng đến quốc sự, suốt ngày cùng với các ca kỷ chơi bời hoan lạc. Khổng tử khuyên răn rất nhiều lần mà Định công không nghe, ông ta nhìn thấy thế cuộc vô phương xoay chuyển, bèn rời bỏ nước Lỗ mà qua nước Vệ.
(Hàn Phi tử: Nội trữ thuyết hạ - Lục vi)
Suy tư 77:
     Ma quỷ có rất nhiều cách để đánh phá cộng đoàn, giáo xứ hay một cá nhân nào đó, nhưng cách công hiệu nhất là vu khống và bôi nhọ danh dự cá nhân:
-       Muốn đổi ông cha sở, nó xúi giục giáo dân này vu khống cha sở, giáo dân nọ chửi bới thóa mạ cha sở và cuối cùng thì vì danh dự mà ngài xin chuyển đi nơi khác.
-       Muốn đổi ông cha sở ra khỏi nhiệm sở vì ngài không hề làm theo lời của một số người, thế là rình mò, vu khống cáo gian, để làm cho cha sở chịu không nổi mà đi nơi khác.
-       Muốn hạ bệ bề trên, thì ma quỷ có hai cách: một là xúi giục lòng kiêu ngạo của các thành viên trong cộng đoàn; hai là lập phe cánh để liên kết chống lại bề trên...
Lê Thư rất hiểu tính tình yêu mến lễ giáo của Khổng tử, nên đã bày trò để Khổng tử xốn con mắt mà bỏ đi khỏi nước Lỗ.
     Người Ki-tô hữu cần phải cảnh giác đề phòng những cách phá hoại cộng đoàn rất tinh vi của ma quỷ, cảnh giác trước những vu khống, cáo gian cho cha sở hay bề trên của mình; cảnh giác trước những phe phái trong cộng đoàn giáo xứ, bằng không thì chính ngay cả bản thân mình cũng sẽ phải trả lời trước mặt Chúa về tội hùa vào với ma quỷ để “chơi” ông cha sở hoặc bề trên của mình.

78.  MUA HỘP TRẢ NGỌC
Nước Sở có một người mang ngọc trai đi đến nước Trịnh để bán.
Vì để có thể bán được giá tốt, nên ông ta dùng mộc lan là một loại gỗ tốt thượng đẳng làm một cái tráp rất đẹp và tinh xảo, trên tráp còn trang điểm hoa hồng tím, lại còn khảm hình chim trả xanh phía trên, sau cùng dùng hương liệu quế tiêu đem bôi lên cái tráp rất thơm, làm cho người ta khi chưa nhìn thấy ngọc trai, thì ngửi được mùi thơm làm cho tâm hồn người ta thoải mái.
Quả thật chỉ một thoáng là ông ta tìm được người mua. Nhưng chẳng qua là người mua chỉ mua cái tráp của ông ta, còn ngọc trai thì trả lại cho ông ta.
(Hàn Phi tử: Ngoại trữ thuyết tả thượng)
Suy tư 78:
      Có những cô gái trang điểm lộng lẫy đẹp như tiên, nhưng lại đi làm gái, vì người mua chỉ mua cái vỏ bên ngoài chứ không yêu thương cái vỏ bên trong là tâm hồn; có những người minh tinh màn ảnh đẹp hơn cả tiên, nhưng người ta chỉ ngưỡng mộ cái bên ngoài là diễn xuất, sắc đẹp, nhưng bên trong tâm hồn thì chẳng một ai cần đến, ngay cả chồng mới cưới vì ngoại tình, dâm ô.v.v...
     Thiên Chúa thì nhìn bên trong tâm hồn, nên cái vỏ bên ngoài của con người không thể bán để mua được Nước Trời, cho nên có rất nhiều người đã tự nguyện trở thành kẻ tôi tớ Thiên Chúa trong bốn bức tường tu viện, trong các trung tâm cai nghiện, trong các bệnh viện, trong các giáo xứ để cầu nguyện và phục vụ cho những người bất hạnh, và rao truyền Lời Chúa cho mọi người.
     Đi bán ngọc chứ không phải đi bán cái tráp đựng ngọc, cho nên cần gì phải trang điểm cái tráp lộng lẫy, bởi vì nó chỉ là cái hộp đựng viên ngọc mà thôi.
     Người Ki-tô hữu đang trên đường đi về Nước Trời là thiên đàng với linh hồn bất tử được “đựng” trong cái xác phải chết, chứ không phải trên đường đi xuống hỏa ngục, cho nên linh hồn thì quý trọng hơn thân xác nhiều, đừng vì cái xác hay chết mà trang điểm cho nó lộng lẫy bằng những ăn uống no say, áo quần lượt là, phấn son gợi dục; còn linh hồn thì bỏ mặc xấu xa bởi những mê đắm sắc dục, kiêu ngạo, thù hận, ghét ghen...
     Linh hồn thì quý hơn tất cả các loại ngọc trai quý báu trên thế gian gộp lại, cho nên phải trân trọng, giữ gìn và trang điểm nó cho thật lộng lẫy bằng đời sống thánh thiện đạo đức như ý muốn của Thiên Chúa, thì mới được vào Nước Trời...
     Ai hiểu được thì hiểu !
79.  MẶC TỬ LÀM DIỀU HÂU BẰNG GỖ
Mặc tử là một tư tưởng gia và thực tiễn gia vĩ đại, đồng thời ông ta cũng có tài nghệ khá tinh xảo, ông ta đã bỏ ra thời gian ba năm nghiên cứu, chế tác ra một con diều hâu bằng gỗ để có thể tự bay lượn.
Đệ tử của ông ta nhao nhao tán thưởng, nói: “Kỷ thuật của thầy thật là quá kỳ diệu, có thể làm cho con diều hâu bằng gỗ bay lên.”
Nhưng con diều hâu bằng gỗ ấy chỉ bay một ngày rồi thì hư mất tiêu, Mặc tử nói: “Cái thứ này thực ra không giống như làm thanh gỗ chắn ngang của xe ngựa, vật liệu dù chỉ bằng một thanh gỗ ngắn, nhưng có thể phát sinh sức mạnh rất lớn, mang được hơn ba ngàn trọng lượng, đi được mấy ngàn dặm, thời gian sử dụng cũng dài, dùng được mấy năm đều không hư.”
(Hàn Phi tử: Ngoại trữ thuyết tả thượng)
Suy tư 79:
      Mặc tử làm con diều hâu bằng gỗ ba năm mới xong, nhưng chỉ dùng có một ngày, là bởi vì khoa học thời đó chưa cao, và người tiên phong thì lúc nào cũng bị hạn chế về mọi mặt, và ngày hôm nay sự phát triển của khoa học thật đáng khâm phục, từ đi bộ cho đến bay vào không gian lên đến mặt trăng, sao hỏa và xuống tận đáy đại dương, đó là do công góp sức của nhiều người qua từng thời đại.
     Người Ki-tô hữu thì hiểu và biết rằng Chúa Giê-su là người đầu tiên rao giảng Phúc Âm của Nước Trời, chỉ ba năm rao giảng, nhưng Ngài đã chuẩn bị đến ba mươi năm ở Na-da-rét; chỉ ba năm rao giảng, nhưng có rất nhiều người tình nguyện đi theo Ngài, không phải chỉ những người Do Thái xưa kia, mà trên toàn thế giới; chỉ ba năm rao giảng, nhưng không dừng lại ở năm thứ tư, mà còn kéo dài cho đến ngày “mặt trăng không còn chiếu sáng”, tức là ngày tận thế...
Nếu Mặc tử sống lại trong thời đại chúng ta thì chắc sẽ phải ngạc nhiên mà...chết lại, bởi vì tư tưởng thực tiển của ông cũng không bao giờ dám nghĩ đến cái a lô di động, không bao giờ nghĩ đến cả tấn sắt thép bay lên tới cung hằng...
Nếu những người đã chết được Chúa cho sống lại, thì họ sẽ phải ngạc nhiên vì những người còn sống trên thế gian sao không tin có Thiên Chúa, và nhứt định họ sẽ từ bỏ tất cả mọi sự của thế gian để sống cho Chúa và với Chúa mà thôi !
80.  YẾN VƯƠNG THÍCH SÂU SẮC
Có một người nước Tống đến gặp Yến vương, nói rằng muốn vì vương mà khắc hai con khỉ mặt đỏ trên cái gai cao nhất của cây có gai. Yến vương rất muốn coi bèn quyết định cung dưỡng ông ta, để ông ta chuyên tâm điêu khắc.
Người nước Tống ấy bổ sung thêm, nói: “Vương thượng, đây là kỷ thuật thần kỳ của tôi, nhược bằng ngài muốn coi tôi khắc khỉ mặt đỏ, thì nhất định không uống rượu và không ăn thịt trong ba tháng mới được.”
Yến vương làm gì mà trai giới lâu như thế, cho nên vẩn cứ không được nhìn thấy khỉ mặt đỏ trên cái gai nhọn.
Có một người thợ làm sắt tên là Hữu Ngự nghe nói chuyện như thế, bèn đến yết kiến Yến vương, nói: “Vương thượng, tôi là người khắc đao, theo lẽ mà nói dao khắc là cái vật cần thiết của điêu khắc, vả lại tất cả đồ dùng để khắc nhất định phải lớn hơn cái dao khắc. Nhưng, cái gai nhọn hoàn toàn chịu không nổi mũi dao khắc bình thường, thì làm sao có thể khắc ra đồ dùng được chứ ? Nếu vương thượng không ngăn cản, thì xin cho kêu người khách nước Tống ấy đến lấy dao khắc để ngài coi, thì biết ông ta có thể khắc khỉ mặt đỏ trên cái gai hay không ?”
Yến vương cảm thấy lời nói của ông ta rất đúng, bèn triệu khách đến, nói: “Ông dùng công cụ gì để khắc con khỉ đỏ trên cái gai ?”
Người khách trả lời: “Dùng dao để khắc.”
Yến vương mời ông ta lấy dao khắc đến coi, người khách thoái thoát nói phải trở về nhà để lấy, bèn lợi dụng cơ hội chạy trốn mất tiêu.
(Hàn Phi tử: Ngoại trữ thuyết tả thượng)

Suy tư 80:
      Người ta thường nói: “nói có sách, mách có chứng”, nhưng con người ta thường dễ dàng bị quyền lợi vật chất và danh vọng lôi cuốn, nên rất dễ dàng nói dối để lừa dối người khác, lòng tham càng lớn thì sự nói dối càng nhiều và việc lừa dối càng tinh vi va thâm độc hơn.
     Nói dối và lừa dối thì chỉ phỉnh gạt được những người tham lam, nhẹ dạ, hiếu kì và kiêu ngạo mà thôi.
     Có những người vu khống mà không có bằng chứng nên trở thành nói dối, có những người nói cho thỏa cơn kiêu ngạo nên trở thành dối trá, có những người biết mình dối trá nhưng vẫn cứ la cho toáng lên cho mọi người biết là mình nói sự thật ai cũng biết...
     Không một ông thợ điêu khắc tài giỏi nào có thể khắc hình hai con khỉ mặt đỏ trên đầu cái gai nhọn của cây gai, vậy mà đại vương nước Yến lại nghe lời nói dối của một tên lừa bịp.
     Người Ki-tô hữu dù trong hoàn cảnh nào cũng luôn nhớ Lời Chúa dạy: “Nhưng hễ “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ”[7], cho nên, dù bị chèn ép tứ bề thì cũng không nói dối, bị vu khống cáo gian thì cũng không nói dối, bởi vì nói dối là làm hư hoại tâm hồn, và gây gương xấu cho cả một thế hệ, và nhất là họ sẽ trở thành con cái của ma quỷ chứ không phải là con cái của sự thật, mà sự thật chính là Thiên Chúa vậy.
81.  NGÔ KHỞI MÚT MỤN NHỌT
Ngô Khởi là tướng lĩnh của nước Ngụy, vâng lệnh dẫn quân đi đánh nước Trung Sơn.
Trước khi xuất phát, ông ta phát hiện một binh lính trên chân mọc một cái mụn nhọt mưng mủ rất lớn, thì lập tức cong người quỳ xuống giúp anh ta hút mủ ra.
Người mẹ của anh lính này thấy vậy, lập tức thương tâm khóc lớn, người bên cạnh cảm thấy kỳ lạ, bèn hỏi bà ta: “Ngô tướng quân đối với con bà tốt như thế, tại sao bà lại khóc như vậy chứ ?”
Người mẹ ấy trả lời: “Trước đây Ngô Khởi đã hút mủ nơi cái mụn nhọt lớn của ba nó, ba nó hoài cảm trong lòng, do đó mà dũng cảm tiến lên phía trước giết địch quân, kết quả là chết trận ở sa trường, thử hỏi làm sao tôi lại không khíc được chứ ?”
(Hàn Phi tử: Ngoại trữ thuyết tả thượng)
Suy tư 81:
      Làm tướng, làm quan hay làm thủ lãnh, cái mà kẻ bề dưới thích nhất ở những người lãnh đạo chính là sự quan tâm, chia sẻ và yêu thương. Tướng quân Ngô Khởi đã làm được điều đó, nên không lạ gì ông trở thành một vị tướng tài giỏi của nước Ngụy.
     Thời nay, hễ làm tướng làm quan thì ăn trên ngồi trước, chẳng ông quan nào dám ngồi ăn chung với người nghèo, chẳng ông quan nào dám xuống bếp rửa chén bát với mọi người; thời nay hể có chức quyền, bất kể chức to hay chức nhỏ, đều cảm thấy mình là người quan trọng, còn những người khác là thứ không quan trọng, cho nên chẳng có “người quan trọng” nào dám trở thành đầy tớ của nhân dân cả, thế là bất công, hối lộ, tham nhũng, trụy lạc, cướp bóc, phạm pháp và những tệ nạn khác có cơ hội mọc lên như nấm đầu mùa...
     Người lãnh đạo chân chính là như lời Chúa Giê-su dạy: trở nên người phục vụ anh em và hy sinh mạng sống cho họ[8]. Tướng quân Ngô Khởi đã không nghĩ đến thân phận làm tướng của mình, để trở nên kẻ phục vụ cho người dưới quyền của mình, thế là ông được tất cả.
     Người Ki-tô hữu khi phục vụ -dù là giám mục, linh mục hoặc các tu sĩ nam nữ- thì cũng vì Chúa Giê-su mà phục vụ, chứ không vì quyền lợi cá nhân hay quyền lợi của một nhóm người nào cả, bởi vì họ luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su[9], và họ muốn chia sẻ những đau khổ ấy của Chúa Giê-su nơi tha nhân và những người bất hạnh.
82.  DẢI THẮT LƯNG
Có một người nước Tống rất nghiêm chỉnh đọc sách, đối với những trí thức trong sách có nói thì hình như rất nổ lực thực hiện.
Có một hôm, anh ta đọc đến trong sách Châu có một câu: “dải thắt lưng”  bèn đi làm hai cái dải và thắt ngang lưng. Khi đi lên phố thì mọi người cảm thấy kỳ lạ bèn hỏi anh ta: “Tại sao anh phải thắt hai dải giây giữa lưng vậy ?” Anh ta trả lời: “Trong sách Châu nói như thế đó.”
Thật ra trong sách Châu viết như thế này: “Dải thắt lưng”, nghĩa là nhờ công năng của dải thắt lưng thắt ngang eo, nghĩa bóng là người đọc sách đối với hành vi của mình phải cân nhắc tính toán và bó buộc nhiều hơn nữa.
Nhưng người nước Tống này lại hoàn toàn theo ý của mặt chữ mà làm.
(Hàn Phi tử: Ngoại trữ thuyết tả thượng)
Suy tư 82:
      Có những người được gọi là con mọt sách vì thích đọc sách, nhưng lại có cái tính lập dị, sách viết sao thì làm vậy như anh chàng thư sinh nước Tống trong truyện trên; có những người Ki-tô hữu thích đọc sách thánh, nhưng có cái tâm khoe khoang nên trở thành kẻ kiêu ngạo, có khi quá khích và lạc đạo, bởi vì họ thích nhớ và thuộc lòng mặt chữ mà không suy tư ý nghĩa của câu Lời Chúa mà mình đã đọc...
     Lập dị thì trở thành cố chấp, cố chấp thường là vì khoe khoang, và khoe khoang thì trở thành kiêu ngạo, mà kiêu ngạo thì chắc chắn chẳng ai thích cả, kể cả ma quỷ ở trong hỏa ngục, bởi vì kiêu ngạo đã làm cho nó từ vị phẩm thần sáng chói trở thành ma quỷ tối tăm, và bị Thiên Chúa phạt đời đời trong hỏa ngục.
Cứ nhìn mặt chữ để làm theo thì sẽ có ngày mang họa vào thân, cứ nhìn mặt người rồi khen đẹp xấu thì cũng sẽ có ngày bị cái đẹp xấu ấy hại. Tốt nhất là nhìn ý nghĩa của mặt chữ và nhìn bên trong tâm hồn của con người, bằng cách khiêm tốn cầu nguyện, suy tư và đem lòng yêu thương thông cảm, để nhận ra và hiểu được mặt của chữ và mặt của con người.
Đó là sự khôn ngoan của người Ki-tô hữu vậy.

83.   CẢNH CÔNG ĐI XUỐNG
Tề Cảnh công đi du ngoạn bên ngoài, quan khoái mã chuyền đến tin tức: “Yến Anh bệnh nặng rất nguy, e rằng phải chết.”
Yến Anh là thừa tướng rất nổi tiếng của nước Tề, một mình đã phò qua ba đời vua nước Tề, có thể nói là đại thần quan trọng của quốc gia. Cho nên khi Cảnh công nghe tin như thế thì lập tức bảo mọi người trở về đô thành, rất lo lắng, sợ rằng e không gặp được Yến Anh lần cuối.
Ông ta vừa bắt đầu ra lệnh thì người lái xe ngựa là Hàn Xu -có kỷ thuật lái xe rất tốt- lái đi, nhưng mới đi chưa được bao lâu, thì Cảnh công vì trong lòng nôn nóng vội vàng nên trách Hàn Xu lái xe quá chậm, bèn một tay với lấy dây cương tự mình lái xe đi. Lại đi không được bao lâu, ông ta trách ngựa sao chạy quá chậm, nên quyết định xuống xe đi bộ...
(Hàn Phi tử: Ngoại trữ thuyết tả thượng)
Suy tư 83:
      Người trong lòng thường nôn nóng thì thấy việc gì cũng chậm chạp, do đó mà thường xảy ra những chuyện đáng tiếc; người thường coi mọi vấn đề đều quan trọng thì trong lòng không hề thảnh thơi, bởi vì họ thấy trách nhiệm quá lớn, mà đôi lúc –thật ra- không phải lớn lao như họ nghĩ; người việc nhỏ cũng coi là nặng nề như chuyện lớn thì thường là làm khổ cộng sự viên, bởi vì họ thường quá quan trọng hóa vấn đề, chứ thật ra không phải như thế...
     Thời nay người ta sống vội vàng, yêu đương vội vàng và hưởng thụ vội vàng, cái vội vàng này không phải như Cảnh công nóng lòng trở về gặp Yến Anh lần cuối, cũng không phải vội vàng vì sợ trể tàu trể xe, nhưng là cái vội càng ích kỷ cho bản thân mình mà thôi
     Có một chuyện cần kíp nhất, vội vàng nhất mà người Ki-tô hữu luôn đặt lên hàng đầu trong cuộc sống của họ, đó chính là “làm chứng nhân cho niềm tin của mình vào Chúa Giê-su”, bởi vì một khi đã trở thành một chứng nhân của niềm tin vào Chúa Giê-su rồi, thì họ cũng sẽ vội vàng ra đi để trở nên những sứ giả đem yêu thương và hòa bình của Chúa đến cho người khác, vì đó là nhu cầu cấp thiết nhất của con người trong thời đại hôm nay.
84.  LÝ KHÔI CẢNH CÁO HAI CÁNH QUÂN ĐỘI
Lý Khôi của nước Ngụy phụ trách lãnh đạo quân trú giữ vùng biên cương, đề phòng sự xâm phạm của quân Tần. Một hôm ông ta khuyên bảo quân đội hai cánh tả hữu, nói: “Các ngươi phải cẩn thận đề phòng, địch nhân không bao lâu sẽ đánh qua đó.”
Cũng một câu nói ấy mà nói nhiều lần, nhưng địch nhân từ trước đến nay không hề đánh qua, quân đội hai cánh tả hữu sau khi đã kinh nghiệm từng trãi căng thẳng một lần rồi hai lần phòng bị, nhưng vẫn bằng an, trong lòng sự cảnh giới cũng từ từ bớt căng thẳng, đồng thời cũng không tin tưởng lời của Lý Khôi nói nữa.
Qua mấy tháng sau, quân đội của nước Tần đột nhiên tập kích. Bởi vì quân nước Ngụy hoàn toàn không cảnh giác trong lòng, nên nhất thời phản ứng không kịp khiến cho cả quân đội hình như bị tiêu diệt hoàn toàn.
(Hàn Phi tử: Ngoại trữ thuyết tả thượng)
Suy tư 84:
      Có nhiều đứa con trợn mắt nói với bố mẹ: biết rồi cứ nói hoài; có những học trò xấc láo với thầy cô: biết rồi giảng moral hoài; có những giáo dân than phiền cha sở: chúng con biết rồi, cha đừng nói nữa. Và rồi thực tế đã chứng minh: cái biết rồi, nghe rồi ấy đã làm cho những đứa con thành kẻ phạm pháp, những đứa học trò thành những kẻ ma cô đỉ điếm, thành phần bất hảo nguy hiểm cho xã hội...
     Quân nước Ngụy coi thường lời nhắc nhở của cấp trên nên bị tiêu diệt.
Cũng vậy, người Ki-tô hữu coi thường Lời Chúa và lời giảng dạy của Giáo Hội –qua linh mục và những người có trách nhiệm- thì cũng sẽ trở thành những phần tử chống đối Giáo Hội và là con cái của ma quỷ. Bởi vì Lời Chúa luôn được lập đi lập lại trong thánh lễ, Lời Chúa được giảng giải mỗi ngày trong thánh lễ, Lời Chúa được công bố mỗi ngày trong thánh lễ, không phải để cho người Ki-tô hữu bình luận phê bình, nhưng là để chiêm niệm, suy tư và sống Lời Chúa trong cuộc đời thường của mình.
Muốn Lời Chúa thật sự đi sâu vào trong tâm hồn mình, thì cần phải có tâm tình khiêm tốn lắng nghe, bằng không thì Lời Chúa sẽ trở thành quan tòa kết án, và là lưỡi dao sắc bén giết chết linh hồn chúng ta đấy.
85.  NGƯỜI BỊ CHẶT CHÂN CỨU TỬ CAO
Học trò của Khổng tử là Tử Cao phụ trách quan hình ngục của nước Vệ, hồi ấy Khổng tử làm thừa tướng nước Vệ, bị người ta vu oan giá họa nên vua nước Vệ ra lệnh truy nã ông ta, Khổng tử bèn cùng với các đệ tử cùng nhau tháo chạy.
Khi họ một đoàn người chạy đến cổng thành thì cửa đã đóng lại rồi, người phụ trách giữ cổng thành là một người bị hình phạt chặt chân, chân đã bị chặt đứt, ông ta dẫn đoàn người vào núp trông một căn nhà bên cạnh cổng thành, để tránh quan binh truy bắt.
Tử Cao nhận ra người bị chặt chân giữ cổng này chính là người mà ông ta đã ra lệnh chặt chân, Tử Cao nói: “Trước đây, bởi vì có quan hệ đến pháp lệnh nên ta chặt chân ngươi, bây giờ đúng là cơ hội tốt cho người báo thù, tại sao ngươi lại giúp chúng ta trốn chạy ?”
Người bị chặt chân đáp: “Tôi bị chặt chân là vì tôi vốn phải chịu hình phạt, còn ngài lúc kêu án thì thái độ rất là thận trọng, hơn nữa kiểm tra tường tận tất cả các điều trong pháp lệnh, lại còn tận lực giáo huấn tôi. Đợi khi xác định tội xong thì sắc mặt của ngài thật nặng nề, tâm tình đau khổ, tôi có thể cảm nhận được ngài rất là không muốn dùng hình phạt nặng như thế với tôi. Tôi biết ngài làm như thế hoàn toàn không phải tốt với tôi cách đặc biệt, mà là ngài trời phú cho có một tâm hồn nhân ái, do đó, tôi rất muốn báo đáp ý tốt của ngài.”
(Hàn Phi tử: Ngoại trữ thuyết tả hạ)
Suy tư 85:
      Có ba công việc liên quan đến mạng sống của người khác: một là quan tòa hai là bác sĩ và ba là thầy cô giáo, cho nên:
-       Nếu không chí công vô tư thì quan tòa sẽ giết chết tội nhân và có khi giết chết tâm hồn của họ.
-       Nếu không có lương tâm thì bác sĩ sẽ giết chết bệnh nhân.
-       Nếu không có đạo đức của nhà giáo, thì thầy cô giáo sẽ giết chết tâm hồn của học sinh và cả một thế hệ tương lai.
Tử Cao và người bị chặt chân đúng là hai người quân tử, quân tử gặp nhau thì hào khí ngất trời, không ai nhìn thấy cái tôi của mình, mà chỉ nhìn thấy cái dũng khí của đối phương và của người khác mà thôi.
     Có một vài người Ki-tô hữu vừa bước ra khỏi tòa giải tội thì nói như tát nước vào mặt người ăn xin ngồi trước cổng nhà thờ vì ngồi cản đường đi của họ; có một vài người khi xưng tội xong thì nói với người hàng xóm rằng, nếu tôi chưa đi xưng tội thì đừng hòng ngồi yên với tôi.v.v...những người Ki-tô hữu này không có cái tâm hoán cải, cũng không có tấm lòng yêu thương, và dĩ nhiên họ cũng không phải là người quân tử của Nước Trời, bởi vì người quân tử Nước Trời thì chỉ biết người mà không biết mình, chỉ biết cho đi mà không giữ lại, chỉ biết cầu nguyện cho người mà không nói xấu bôi nhọ tha nhân...
     Ki-tô hữu là người có Chúa Ki-tô trong mình, và đương nhiên cũng nhìn thấy Chúa Giê-su Ki-tô ở nơi người khác, đó là bí quyết để làm người quân tử của Nước Trời vậy.
86.  CON CỦA “CẨU GIẢ” VÀ CON CỦA “NGUYỆT QUỲ GIẢ”
Thời xưa, những tên ăn trộm thường dùng da chó để làm thành một cái áo bằng da thú khoác lên mình giả làm chó, đợi đêm về thì rình rình vào nhà người ta để ăn trộm của cải, cho nên bị gọi là “cẩu đạo giả”.
Trước đây, trong hình phạt có một loại hình phạt là chặt chân, gọi là chặt chân, người bị hình phạt này gọi là “nguyệt giả” hoặc là gọi “nguyệt quỳ giả”. Gọi là nguyệt quỳ giả vì là người tàn phế, cho nên nhận được sự cứu tế của chính phủ.
Một hôm, đứa con của “cẩu giả” và con của “nguyệt quỳ giả”, cùng nhau khoe khoang về ba của mình. Con trai của “cẩu giả” nói: “Áo da thú của bố tớ còn có cái đuôi, đó chính là độc nhất vô nhị.” Đứa con của “nguyệt quỳ giả” nói: “Xì, bố của tớ vừa đến mùa đông là có thể nhận được vải quần miễn phí đó.”
(Hàn Phi tử: Ngoại trữ thuyết tả hạ)

Suy tư 86:
      Con cái thường hãnh diện về bố mẹ của mình vì những việc mà họ bố mẹ đã làm cho chúng nó: có những đứa con hãnh diện vì bố mẹ mình là bác sĩ chữa được nhiều bệnh, cứu nhiều người; có những đứa con hãnh diện vì bố mẹ mình là thầy cô giáo dạy dỗ rất nhiều học trò; lại có những đứa con hãnh diện vì bố mẹ bỏ tiền ra giúp đỡ rất nhiều người nghèo khổ.v.v...tất cả những hãnh diện của những đứa con ấy đều là chính đáng, cái quan trọng là bố mẹ có làm được những gì để cho con cái hãnh diện không mà thôi.
     Có những giáo dân hãnh diện về cha sở của mình, vì ngài sống quên mình, hăng hái làm việc, hòa đồng với con chiên bổn đạo; có những giáo dân khi nghe nói đến cha sở của mình thì lắc đầu ngao ngán, buồn phiền, vì ngài không muốn làm gì cả trong giáo xứ, không đoàn thể, không hội hè, các lễ trọng cũng như lễ ngày thường, không trang hoàng nhà thờ, không kêu gọi giáo dân cộng tác, nhưng lại trách móc giáo dân ít đi tham dự thánh lễ !?
     Hai đứa con của “cẩu giả” và “nguyệt quỳ giả” đều khoe khoang về thành tích của bố mình, dù bố mình là những tội phạm, bởi vì chúng nó không biết. Cũng vậy, sẽ có những giáo dân đem “thành tích” của cha sở đi khoe với mọi người, nhưng không phải để hãnh diện mà là để đau xót và cười “khơm” cha sở của mình.
87.  CON NGỰA GẦY CỦA HÀN TUYÊN VƯƠNG
Hàn Tuyên vương rất coi trọng con ngựa của ông ta, một hôm sau khi ông ta đi đến chuồng ngựa để coi ngựa của mình, rất lo lắng nói: “Ta dùng rất nhiều lương thực để cho ngựa ăn, tại sao nó vẫn cứ gầy vậy chứ, ta rất lo lắng về chuyện này.”
Chu Thị trả lời: “Giả như quan coi sóc ngựa đem toàn bộ lương thực đã lãnh cho ngựa ăn, thì ngựa không thể không mập béo; giả như chỉ là cho ngựa ăn vài hạt tượng trưng -trên thực tế ngựa được ăn no rất ít- thì ngựa không thể không gầy được. Ngài không tích cực đi điều tra chuyện này, mà chỉ lo lắng buồn phiền thì ngựa không thể nào mập béo lên được.”
(Hàn Phi tử: Ngoại trữ thuyết tả hạ)
Suy tư 87:
  Hàn Tuyên vương coi trọng con ngựa, nhưng lại không đi kiểm tra người nuôi ngựa như thế nào, phương pháp nuôi ngựa ra sao, thì ngựa gầy vẫn cứ gầy, lo lắng nào có ích chi !
Thời nay, có những ông quan thanh tra chỉ biết thanh tra bằng miệng, tức là nghe cấp dưới báo cáo mà ra chỉ thị, cho nên có nhiều công trình vẫn cứ bị rút ruột.
Thời nay, có những ông quan thanh tra bằng lỗ tai, tức là chỉ biết nghe mà không muốn nhìn thực tế, và cứ thế tiếp tục báo cáo với cấp trên là đạt chỉ tiêu trăm phần trăm, thế là có các công ty nhà nước bị thua lỗ hàng trăm tỷ đồng.
Thời nay, có những ông quan thanh tra thường hay đi lạc đường, tức là không đi đến hiện trường công trình để thanh tra, mà lại đi “lạc” vào nhà hàng máy lạnh để “thanh tra” các cô tiếp viên và bia rượu loại nào xịn loại nào zdỏm, thế là công trình vẫn như cũ và hối lộ nảy sinh...
     Sách Châm Ngôn đã nói về hạng người ấy như thế này:
“Có hạng người nguyền rủa cha
và không cầu phúc cho mẹ.
Có hạng người cứ cho mình là trong sạch
dù chưa được gột rửa khỏi vết nhơ.
Có hạng người giương cặp mắt hiếu kỳ,
đưa cái nhìn ngạo mạn.
Có hạng người răng như kiếm, hàm như dao,
ăn sống nuốt tươi kẻ nghèo hèn khốn khổ,
gạt họ ra khỏi đất nước, khỏi loài người.”[10]
88.  NGƯỜI CỦA HUYỆN TRỊNH BÁN LỢN
Có một người của huyện Trịnh dắt một con lợn từ nghìn dặm xa xôi đến chợ để bán, muốn đổi một ít tiền để gia đình chi tiêu. Nơi chợ, sắc mặt của anh ta rất chăm chú khẩn trương, không biết lo lắng điều gì !
Một lúc sau, có người đến gần hỏi anh ta: “Con lợn nhỏ này của anh bán như thế nào ?”
Anh ta không chịu không nổi liền nói: “Đường trở về nhà tôi rất xa xôi, bây giờ trời gần tối rồi, làm gì ở không nói chuyện với ông chứ !”
(Hàn Phi tử: Ngoại trữ thuyết tả hạ)
Suy tư 88:
      Phàm là người làm ăn buôn bán thì luôn biết chiều lòng khách đến gian hàng của mình, với nụ cười tươi trên môi thì dù cho khách hàng khó tính mấy chăng nữa cũng vui lòng, cho nên mới có câu nói “khách là thượng đế”.
     Làm người truyền giáo trong bối cảnh của xã hội ngày nay thì cũng giống như người làm ăn buôn bán, cần phải vui vẻ, hòa đồng và sẵn sàng trả lời hoặc nhu cầu muốn tìm hiểu hàng của khách, có như thế việc truyền giáo mới mang lại kết quả. Phải coi người giáo dân hoặc người mình muốn rao truyền Lời Chúa là thượng đế, thượng đế đúng nghĩa chứ không câu khách, bởi vì người Ki-tô hữu luôn nhìn thấy Chúa Giê-su (Thiên Chúa, thượng đế) nơi người khác.
     Truyền giáo ngày hôm nay không phải là cha sở chấp hai tay sau đít đi tới đi lui trước nhà thờ để đánh đuổi con nít khi chúng nó đến nhà thờ đùa giỡn, bởi vì khi làm như thế là cha sở trở thành ông bảo vệ cơ quan; cũng không phải chỉ đợi đúng giờ làm lễ thì cha sở mới ra nhà thờ, nhưng phải ra trước để chào đón giáo dân và trò chuyện thân tình với họ, đó mới là một đại gia đình đúng nghĩa của nó.
     Người bán lợn của huyện Trịnh không có kinh nghiệm buôn bán, và cũng không có “khiếu” buôn bán nên ăn nói cộc lốc, giận dữ với khách hàng, thế là uổng công từ dẫn lợn từ xa xôi vạn dặm ra chợ bán.
     Truyền giáo đúng nghĩa là đi ra khỏi nơi mình ở, đến với tha nhân -mà cụ thể là con chiên bổn đạo của mình- để không những nói, mà còn nghe, thấy và hiểu biết hoàn cảnh của họ, có như thế bài giảng trên bục giảng của các cha sở mới linh nghiệm, thu hút và đánh động tâm hồn của bổn đạo của mình. Nếu không như thế, thì cũng giống như người bán lợn của huyện Trịnh mà thôi: giận dữ, cộc lốc, khó tính...
89.  TIẾT CÔNG DÂNG NGỌC HOA TAI
Tiết công là thừa tướng của Tề Uy vương, phu nhân của Tề vương chết, Tiết công hy vọng được biết Tề vương tuyển chọn ai trong mười thê thiếp làm phu nhân để tiến cử cho Tề vương, nếu mình tiến cử mà được Tề vương chấp nhận, thì có thể nhờ việc lập phu nhân nầy mà được Tề vương coi trọng.
Vì để dò hỏi tâm ý của Tề vương, nên ông ta ra lệnh cho chuẩn bị mười đôi vòng tai, trong đó có một cặp được làm rất đặc biệt và xinh đẹp, toàn bộ đem dâng cho Tề vương.
Tề vương đem vòng tai chia đều cho mười thê thiếp. Qua ngày hôm sau, Tiết công âm thầm quan sát cặp hoa tai đẹp nhất ấy là do bà nào đeo, để tiến cử cho Tề vương lập làm phu nhân, quả nhiên được Tề vương tán đồng.
(Hàn Phi tử: Ngoại trữ thuyết tả hạ)
Suy tư 89:
      Làm cấp dưới thì lúc nào cũng muốn biết cấp trên muốn gì để đáp ứng, cho nên những cấp dưới này rất là nhạy bén trước cái nhíu mày, nhăn mặt, trợn mắt của cấp trên.
-       Có những cấp dưới biết “gu” của cấp trên mình là thích gái đẹp, nên lúc nào cũng săn tìm gái đẹp cho cấp trên sau khi nhậu nhẹt.
-       Có những cấp dưới biết tính của cấp trên thích ăn hối lộ, nên nhắc khéo những người muốn cậy nhờ phải biết điều.
-       Có những cấp dưới biết cấp trên của mình ghét nịnh nọt, nên thường không dám lăng xăng trước mặt cấp trên.
-       Có những cấp dưới biết cấp trên không bao giờ tham nhũng hối lộ, thế là nhắc nhở những người có liên hệ đến công việc phải rõ ràng thẳng thắng với cấp trên...
Thời nay, có người nói quan trên bại hoại là do thuộc hạ bày vẻ xúi giục; lại có người nói thuộc hạ hư hỏng là vì biết quan trên của mình cũng là loại bại hoại cho nên mới tác tung tác quái ! Nhưng nếu tất cả quan trên đều chí công vô tư mà làm quan thì thuộc hạ sẽ không bao giờ tác quái, bởi vì “thượng bất chính, hạ tắc loạn” là như thế.
Người Ki-tô hữu khi làm quan thì luôn tâm niệm rằng: “Những việc tôi làm hôm nay thì phải trả lời trước mặt Thiên Chúa trong ngày phán xét.”
Đó chính là cách để trở thành ông quan tốt lành và thuộc hạ trung tín vậy.
90.  CHÓ DỮ RƯỢU CHUA
Nước Tống có một người họ Trang bán rượu cho người ta, ông ta nấu rượu rất thơm và thuần khiết rất được mọi người hoan nghinh.
Có một đại điền chủ muốn đãi tiệc mời khách, bèn sai đầy tớ đến tiệm rượu của nhà họ Trang để mua rượu, nhưng chó của nhà họ Trang rất dữ tợn, thường cắn bị thương những người đến mua rượu, người đầy tớ này trên đường đi càng nghĩ càng sợ hãi, và thực tế thì không dám đi, bèn tự tiện đi mua rượu nơi nhà người khác. Sau khi về nhà, chủ nhân vừa nếm thì cảm thấy mùi vị không đúng, bèn hỏi đầy tớ: “Mùi vị này không đúng, tại sao mày không mua rượu ở nhà ông Trang ?”
Người đầy tớ sợ bị chửi mắng, bèn nói dối: “Trong nhà ông Trang có con chó hung dữ, khách không dám đến cổng, cho nên rượu hôm nay trở thành chua rồi ạ !”
(Hàn Phi tử: Ngoại trữ thuyết tả hạ)

Suy tư 90:
     Đã mở cửa tiệm buôn bán thì đừng nuôi cho dữ, bởi vì chẳng ai dại gì đến mua những nơi bán hàng có nuôi cho dữ; đã mở nhà hàng ăn uống, vui chơi, thì không nên nuôi cho dữ, bởi vì không một người khách nào muốn bị chó cắn cả...
     Nhà thờ là nơi giáo dân đến để tham dự các lễ nghi của Giáo Hội, là nơi thờ phượng Thiên Chúa và là nơi để các giáo dân đến cầu nguyện với Thiên Chúa. Nhưng có một vài nhà thờ to lớn mà giáo dân không muốn đến chầu Chúa, bởi vì cha sở nuôi hai ba con cho to lớn chạy quanh nhà thờ, thấy người vào thì sủa om sòm và có khi nhe nanh muốn cắn...
     Khi giáo dân có chuyện muốn gặp cha sở thì rón rén đi vào cửa hông, hoặc lấp ló bên ngoài sân, bởi vì trong nhà cha sở có nuôi con cho bẹc-gê to bự chảng, đố ai mà muốn vào...
     Thích nuôi chó là một thú vui không sao cả, nhưng có lẽ nên hy sinh thú vui đó để nhà thờ ngày càng có tiếng cười đùa vui vẻ của trẻ em, ngày càng có nhiều người đến chầu Chúa, và có nhiều người đến để tìm nguồn an ủi trong nhà thờ với Chúa Giê-su Thánh Thể.
     Nhà thờ đẹp to lớn mà nuôi thêm vài con chó dữ nữa, thì nhà thờ sẽ trở thành công sở và xa lạ với giáo dân.

91.  CÔNG NGHI HƯU THÍCH ĂN CÁ
Công Nghi Hưu rất thích ăn cá, từ khi thôi làm thừa tướng của nước Lỗ, thì mỗi ngày đều có người đem cá đến dâng trước cửa, nhưng Công Nghi Hưu không bao giờ nhận của ai cả.
Em trai của ông ta bèn hỏi: “Không phải anh thích ăn cá sao ? Sao lại không nhận cá của người ta dâng ?”
Công Nghi Hưu trả lời: “Ta không thể nhận được, vì một khi nhận thì mắc nợ của người ta, và cũng nhất định là phải chiều theo ý của người ta. Chiều theo ý người ta là làm tổn hại đến pháp luật, làm hại đến pháp luật là ta đánh mất cương vị thừa tướng, mất cương vị thừa tướng thì người ta sẽ không dâng cá đến cho ta nữa. Không có người dâng cá cho ta, thì ta lại mất đi bổng lộc, không có tiền để tự mình mua cá, thì có thể ngay cả cá cũng không có mà ăn. Cho nên, bây giờ ta thà xuất tiền của mình ra mua cá mà ăn còn hơn.”
(Hàn Phi tử: Ngoại trữ thuyết tả hạ)
Suy tư 91:
      Thời nay, có những ông quan không đợi người ta dâng biếu nhưng lại dùng quyền lực để chiếm đoạt cái mình thích; thời nay có những người nhiều tiền của và thế lực, nhưng lòng tham vẫn không thỏa mãn với những gì mình có, không những bắt người ta tặng cho, mà còn dùng tiền bạc và thế lực để chiếm đoạt của người khác, họ “ăn” mà không nghĩ đến hậu quả “đời cha ăn mặn (thì) đời con khát nước” hoặc “cha nợ (thì) con trả”, mà cái khát nước này không phải chỉ là chuyện nói chữ cho vui, nhưng là khát nước ở trong hỏa ngục, và nợ phải trả không những đời này mà trả nợ đời sau trong chốn phạt đời đời.
Thích ăn cá nhưng lại không nhận cá người ta biếu cho, đó là người có lòng tự trọng và là một vị quan thanh liêm, thật hiếm có vậy.
     Quà tặng là bày tỏ tấm lòng thành của người tặng, không có gì đáng nói, và người nhận cũng chẳng có gì phải bàn, nhưng người có lòng tự trọng cảm thấy áy náy khi nhận quà của người khác; và người có lòng bác ái cũng cảm thấy không yên tâm khi nhận quà của người nghèo khó, dù đó là lòng thành của họ, thì huống gì là những người đi chiếm đoạt hoặc cưỡng ép người khác tặng quà !
     Có niềm tin với không có niềm tin khác nhau là ở điểm đó.

92.  VUA THẦN RẮN
Có một đầm nước, trước đây nước rất đầy đủ, sức sống tràn trề. Nhưng, bởi vì khí hậu thay đổi nên đầm nước dần dần khô cạn, con rắn nước ở trong đầm không thể không dời đi nơi khác để tìm đường sống.
Rắn nước nói với con rắn lớn: “Khi chúng ta dời đi, nếu do anh dần đầu thì tôi đi theo sau, nếu con người nhìn thấy thì cho rằng bầy rắn lớn xuất động, thì nhất định sẽ giết chúng ta. Tốt nhất là anh cõng tôi trên lưng, để tôi ngậm cổ của anh mà tiến lên, như thế con người tưởng rằng tôi là vua rắn, thì không dám giết chúng ta.”
Con rắn lớn làm theo lời con rắn nhỏ, lắc la lắc lư men theo đường lớn mà đi, quả nhiên con người thấy vậy thì ùn ùn tránh đường để vua thần rắn đi qua.
(Hàn Phi tử: Thuyết lâm thượng)
Suy tư 92:
      Sự khôn ngoan không ở tại nơi thân xác to lớn đô con, cũng không hệ tại nơi khuôn mặt đẹp trai đẹp gái, cũng như không ở nơi chức to quyền lớn, nhưng nó ở trong cái đầu biết suy nghĩ nhạy bén và cái tâm biết lắng nghe.
-       Có những người có chức quyền nhưng khi hành động thì thiếu khôn ngoan, nếu người khác góp ý thì nói: “Tao vậy mà sai à ?”
-       Có những người thân xác đô con vạm vở không mấy khôn ngoan khi xử lý, nếu có người góp ý thì nói: “Tao lớn vậy mà sai à ?”
-       Có những người đọc nhiều sách xem nhiều báo nhưng không khôn ngoan khi nói năng, nếu có người góp ý thì họ nói: “Tao học hết sách vở mà làm sai à ?”
Con người ta ai cũng muốn cho mình là người khôn ngoan hơn người khác, ai cũng tự hào mình lớn rồi nên có đủ khôn ngoan, cho nên khi có người nhắc nhở thì bực tức và nói mình đã lớn rồi !
     Phúc Âm của thánh Lu-ca đã cho chúng ta thấy, Chúa Giê-su mới mười hai tuổi mà có sự khôn ngoan trổi vượt, ngồi trong đền thờ giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. Ai nghe Ngài nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu[11].
To con lớn xác, chức quyền cao chưa chắc đã là người khôn ngoan. Nhưng chỉ có những ai luôn suy tư cầu nguyện, mới được Chúa Thánh Thần ban cho ơn khôn ngoan của Ngài mà thôi.
93.  NGỰA GIÀ BIẾT ĐƯỜNG ĐI
Hai vị đại thần Quan Trung và Thấp Bằng dẫn quân đội đi công đánh nước Cô Trúc. Cuộc chiến này rất khốn khổ, mùa xuân xuất phát cho đến mùa đông mới ban sư về triều.
Trên đường về nước thì đội ngũ bị lạc đường, Quan Trung nói: “Chúng ta có thể lợi dụng trí khôn của con ngựa già.” Ông ta bèn thả con ngựa già ra để nó dẫn đường, mọi người đi theo nó, quả nhiên tìm được đường về.
Đi một đoạn đường trong núi, trước sau không tìm thấy suối nước, Thấp Bằng nói: “Vào mùa đông thì kiến làm tổ ở phía nam của núi, bên ngoài tổ kiến có một đống đất đậy kín, nếu nó cao một chút, thì đi phía dưới đào xuống bảy tấc thì nhất định có nước.”
Thế là ra lệnh cho người phá đống đất đậy tổ kiến, quả nhiên tìm được nước.
(Hàn Phi tử: Thuyết lâm thượng)
Suy tư 93:
     Người ta cũng nói “ngựa theo đường cũ”, là để nói đến những người không thể từ bỏ những thói hư tật xấu, cứ phạm đi phạm lại; và cũng có nghĩa là ngựa luôn nhớ đường về của mình, vì có những con ngựa –dù chủ mình chết rồi- vẫn cứ một mình tìm được đường về nhà.
     Tâm hồn của con người như ngựa bất kham, như ngựa không cương, thường muốn phóng chạy đi bất cứ lúc nào, nghĩa là luôn muốn mình được tự do bay nhảy không bị ràng buộc bởi bất cứ thứ gì. Nhưng người Ki-tô hữu thì như thánh Phao-lô tông đồ nói: “Trước kia, khi chưa biết Thiên Chúa , anh em làm nô lệ những vật tự bản chất không phải là thần. Nhưng nay anh em đã biết Thiên Chúa, hay đúng hơn, được Thiên Chúa biết đến, làm sao anh em còn trở lại với những yếu tố bất lực và nghèo nàn ấy, còn muốn làm nô lệ cho chúng một lần nữa ?”[12]
Biết được Chúa Giê-su rồi thì người Ki-tô hữu không còn trở lại cuộc sống phóng túng bất kham như trước đây của mình nữa, nhưng sẽ sống trọn vẹn cho Thiên Chúa và cho Chúa Giê-su mà thôi, bởi vì tình yêu của Thiên Chúa và Máu Thánh cứu chuộc của Chúa Giê-su như dây cương êm ái hướng dẫn thúc giục họ trở về với con đường chính trực –khi họ sống tội- của Chúa đã vạch ra, con đường đó chính là con đường hối cải và hoàn thiện.
94.  CANH THỊT VÀ CON NAI NHỎ
Ngụy Văn Hầu sai Nhạc Dương dẫn binh đi đánh nước Trung Sơn, lúc ấy con trai của Nhạc Dương đang ở nước Trung Sơn, vua nước Trung Sơn đang lúc cao hứng sai người đem con trai của Nhạc Dương nấu thành canh thịt và đem cho Nhạc Dương ăn, Nhạc Dương ở trong trại quân đem chén canh thịt ăn sạch.
Tin tức được chuyền qua nước Ngụy, Ngụy Văn hầu cảm thấy rất có lỗi với Nhạc Dương, Đồ Sư Tán thì kinh sợ nói: “Ngay cả thịt của con mà ông ta cũng ăn, thì còn thịt của ai mà không dám ăn chứ ?” Về sau, Nhạc Dương hủy diệt được nước Trung Sơn, Ngụy Văn vương tưởng thưởng công lao của ông ta, nhưng đối với ông ta thì lại sinh ra sự đề phòng rất cẩn thận.
Mạnh Tốn dẫn đầy tớ là Tần Tây Ba đi săn, bắt sống được một con hươu nhỏ và muốn Tần Tây Bá đem về trước. Hươu mẹ không muốn rời bỏ hươu con nên cứ đi theo Tần Tây Bá kêu khóc. Tần Tây Bá trong lòng chịu không nổi nên đem hươu con trả lại cho hươu mẹ. Mạnh Tốn thấy Tần Tây Bá không hoàn thành nhiệm vụ thì rất giận dữ, nên đuổi anh ta ra khỏi nhà.
Ba tháng sau, Mạnh Tốn lại sai xa phu đi rước Tần Tây Bá về làm thầy dạy cho con của ông ta, xa phu không hiểu tại sao ông ta truốc sau mâu thuẫn nhau, bèn hỏi ông ta nguyên nhân.
Mạnh Tốn trả lời: “Ngay cả một con hưu nhỏ mà Tần Tây Bá cũng không đành lòng làm hại, thì sao lại nhẩn tâm để con ta chịu khổ chứ ?”
(Hàn Phi tử: Thuyết lâm thượng)
Suy tư 94:
     Nhạc Dương ăn bát canh thịt con mình là để bày tỏ lòng căm thù đối với vua nước Trung Sơn, đó là chuyện bất đắc dĩ, và là người có tâm hồn cứng rắn quyết liệt trung với nước; Tần Tây Ba không nở bắt hươu con về nhà khi hươu mẹ chạy theo chảy nước mắt, đó là người có lòng nhân, cả hai đều được chủ nhân kính phục, nhưng người ta thì luôn ưu ái người có lòng nhân và đề phòng người có lòng trung với nước.
     Ai cũng yêu mến người có lòng nhân ái, bởi vì người có lòng nhân ái luôn đem bình an và hạnh phúc đến cho người khác; ai cũng cảm phục người anh hùng có chí khí, nhưng những người anh hùng có chí khí thường làm cho các quan bất chính vô tài nghi kỵ đề phòng, bởi vì chí khí anh hùng thì luôn đối chọi với người bất tài, lòn cúi xiễm nịnh.
     Làm người anh hùng có chí khí thì tốt, nhưng nếu người anh hùng chí khí mà có lòng nhân ái thì càng tốt hơn, bởi vì chính họ bên ngoài làm cho quân thù khiếp sợ, bên trong thì làm cho lòng người an vui tin tưởng.
     Xây dựng hòa bình là ở đó vậy.
95  DỆT GIỎI GIÀY TRẮNG
Vị trí của nước Lỗ nằm ở phía bắc, bốn mùa rõ ràng, áo lạnh, giày dép, mũ nón cho mùa đông là những đồ dùng rất cần thiết. Có một đôi vợ chồng, chồng giỏi về nghề dệt vải làm giày, vợ giỏi về dùng lụa để làm mũ, hai vợ chồng muốn dời nhà qua nước Việt ở phía nam.
Bạn bè nghe nói thì khuyên họ từ bỏ ý định đó đi: “Ông bà mà dời qua nước Việt thì dứt khoát phải chết đói.”
Hai vợ chồng này không hiểu được ý tứ trong lời nói ấy, bạn bè giải thích: “Vị trí nước Việt ở phía nam, khí hậu nóng nực, người ta quen đi chân không và cắt tóc, không giống phong tục của nước Lỗ. Bên đó không ai mua giày, và cũng chẳng ai mua mũ, mặc dù hai vợ chồng anh tay nghề giỏi, nhưng không có thị trường cần thiết, thì làm sao có thể nuôi gia đình qua ngày đoạn tháng chứ ?”
(Hàn Phi tử: Thuyết lâm thượng)

Suy tư 95:
      Thời nay, dù là thời của @, thời của công nghệ cao hay là thời của khoa học kỷ thuật, thì con người ta cũng cần phải có một nghề giỏi để kiếm sống, bởi vì có công nghệ cao mà không có tay nghề xử lý thì công nghệ cao sẽ trở thành công nghệ thấp.
     Thời nay, dù là thời của sản xuất sản phẩm hàng loạt theo dây chuyền, thì người ta vẫn cứ tuyển chọn những người có tay nghề vững vàng vào những khâu quan trọng, bởi vì dù là sản phẫm dây chuyền do máy móc làm, nhưng nếu không có bàn tay chuyên môn thì sản phẩm không thể tốt được.
     Thời nay, dù cho con người ta ngồi ở nhà mở vi tính đọc Kinh Thánh, mở truyền hình coi Đức Giáo Hoàng làm lễ và nghe ngài giảng, thì người ta vẫn luôn cần đến những linh mục bằng xương bằng thịt, bởi vì Kinh Thánh trong vi tính và Đức giáo hoàng làm lễ trong truyền hình –dù là đẹp và hoành tráng- thì chỉ là những hình ảnh, không thể bằng một linh mục bằng xương bằng thịt hằng ngày giảng Lời Chúa, sống Lời Chúa và tiếp cận với giáo dân trong cuộc sống đời thường.
     Tuy nhiên, có tay nghề tốt để sản xuất dây chuyền, và công nghệ cao, mà không có thị trường tiêu thụ thì cũng sạt nghiệp; có linh mục thông kim bác cổ mà chỉ ngồi trong nhà xứ lộng kiếng bốn bề thì thật uổng công Giáo Hội quá chừng...
     Ai hiểu được thì hiểu !
96.  TIỀN ĐỂ DÀNH
Có một người ở nước Vệ, một ngày trước khi làm đám cưới cho con gái, thì gọi con gái lại nói: “Sau khi gả con xong thì con phải nhất định tìm cách giấu đi tiền để dành. Tình hình xã hội bây giờ, rất ít vợ chồng cùng nhau sống đến già, cái chuyện làm vợ bị chồng bỏ thường xảy ra, vạn nhất đến nước ấy mà nếu bên mình có chút tiền tích lũy thì không sợ không có cách để mà sống.”
Sau khi lấy chồng, quả thật con gái không lúc nào là không kiếm cơ hội để giấu tiền riêng cho mình. Về sau nhà chồng thực sự chịu không nổi, bèn bỏ cô ta, đuổi gấp về nhà bố mẹ để mình.
Con gái đem tiền bạc về nhà nhiều gấp bội số nữ trang hồi môn, làm cho ba cô ta rất đắc ý, và cho rằng mình thông minh biết nhìn xa thấy rộng.
(Hàn Phi tử: Thuyết lâm thượng)
Suy tư 96:
      Kinh nghiệm cuộc đời thì cha mẹ luôn dồi dào hơn con cái, nhưng thời nay ít có cha mẹ nào dạy dỗ con gái trước khi lấy chồng, bởi vì họ cứ nghĩ rằng thời buổi này không dạy thì chúng nó cũng biết cách làm dâu !
     Kinh nghiệm của cha mẹ thì nhiều, nhưng dạy con trước khi về nhà chồng phải tích trử tiền bạc để chuẩn bị ly hôn, hoặc tích lủy tiền bạc để khi bị chồng bỏ là chuyện không nên có, bởi vì con gái chưa ra khỏi nhà mà đã dạy con chuyện ly hôn thì thật là trái với đạo thường của con người. Có thể dạy con gái như thế này:
-       Dạy con gái trước khi lấy chồng phải biết chu toàn bổn phận làm dâu, chu toàn bổn phận làm mẹ làm vợ, và phải trở thành niềm vui và hạnh phúc cho chồng và cho con cái.
-       Dạy con gái trước khi lấy chồng phải biết kiên nhẫn chịu đựng những sai trái của chồng, dùng lời lẽ chân thành ôn hòa để nói chuyện với chồng.
-       Dạy con gái biết quản lý gia đình, biết đặt hạnh phúc gia đình trên niềm vui cá nhân, biết dạy con cái của mình kính Chúa yêu người.
-       Dạy con gái trước khi lấy chồng phải sống chung thủy với chồng khi thịnh vượng cũng như khi gian nan, biết chia sẻ những lo toan gánh nặng ví công việc và niềm vui với chồng...
Vợ chồng ngày nay rất dễ dàng ly hôn là bởi vì họ không có niềm tin Ki-tô giáo, là vì tình yêu của họ không phát xuất từ tình yêu của Thiên Chúa, mà tình yêu của Thiên Chúa là duy nhất và chia sẻ, tha thứ và đón nhận...

97.  CHÂU CHÂU UỐNG NƯỚC
Ngày xưa, có một loại chim tên là Châu Châu,đầu của nó rất nặng, lông đuôi của nó cong lên cao cao, thường trở về bên hồ nước uống nước, bởi vì đầu nặng chân nhẹ, nên chỉ cần thân chúi phía trước thì bị té nhào phía trước.
Châu Châu thử rất nhiều lần, cũng trăn trở rất lâu, cuối cùng cũng nghĩ ra được một cách, đó là nhờ một con Châu Châu khác cắn vào lông vũ của nó lôi mạnh ra sau, như thế thì có thể uống được nước.
Con người ta cũng như vậy, đơn độc một mình không cách gì uống nước được, phải tìm một người khác có thể cắn vào lông vũ (danh dự) mà kéo họ lại, giúp họ một tay để họ uống nước.
(Hàn Phi tử: Thuyết lâm hạ)

Suy tư 97:
      Con chim Châu Châu cũng khôn ngoan nghĩ ra một cách để có thể uống được nước mà không bị té chúi đầu về phía trước. Con người ta cũng như con Châu Châu, cần phải có người giúp đỡ mới có thể đứng vững trong cuộc sống xô bồ của xã hội kim tiền hưởng thụ hôm nay.
-       Chồng cần có sự giúp đỡ của vợ, và ngược lại vợ cũng cần có sự giúp đỡ của chồng, để xây dựng một gia đình hạnh phúc vui vẻ.
-       Con cái cần có sự dạy dỗ bảo ban của cha mẹ mới có thể mạnh khỏe đi ra với đời.
-       Học trò cần có sự giúp đỡ của thầy cô giáo mới có thể đứng vững trên đôi chân kiến thức của mình.
-       Cấp dưới cần có sự nâng đỡ của cấp trên mới có thể có kinh nghiệm trong công việc được giao phó.
-       Bạn bè tốt cần có sự nâng đỡ nhau, để cùng nhau thăng tiến trong đời sống đạo cũng như đời..v.v...
Người Ki-tô hữu khôn ngoan thì biết Chúa Giê-su là chỗ dựa duy nhất của họ, ngoài Chúa ra thì họ không còn nơi nào nương tựa khác, bởi vì thánh Phê-rô tông đồ đã xác tín với Chúa Giê-su rằng: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.”[13] Và Chúa Giê-su cũng đã nói với chúng ta: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.”[14]
     Biết cậy nhờ Chúa Giê-su nâng đỡ là người khôn ngoan nhất trong những người khôn ngoan.
98.  GIÁM CHỈ TỬ MUA NGỌC
Giám Chỉ Tử là một phú thương người nước Tống, rất có cách nhìn và thủ đoạn của giới thương nghiệp. Một hôm, ông ta cùng với người khác tranh chấp mua một viên ngọc chưa được mài giũa, giá gốc của viên ngọc là một trăm đồng tiền, bởi vì có liên quan đến tranh chấp giá cả, nên giá cả càng tăng lên.
Giám ChỈ Tử không muốn đưa cao giá tiền lên nên giả bộ lỡ tay làm bể viên ngọc chưa giũa, lần này thì người tranh chấp mua viên ngọc chưa giũa ấy với ông ta không cần nữa, Giám ChỈ Tử lấy một trăm đồng đưa cho người bán ngọc, đem những mảnh vỡ của viên ngọc chưa giũa ấy về nhà.
Ông ta mời thợ làm ngọc đến, đem những mảnh vỡ của viên ngọc chưa giũa bị ấy chạm khắc, chế tạo thành nhiều loại vật dụng rất đẹp và tinh vi, rồi bán ra với giá rất cao, kiếm được rất nhiều tiền.
(Hàn Phi tử: Thuyết lâm hạ)

Suy tư 98:
     Người buôn bán thì có tính toán của người buôn bán, tức là lời và lỗ, và không người nào đi buôn lại muốn cho mình bị lỗ vốn cả, cho nên trong đầu óc của họ luôn tìm nhiều cách –kể cả thủ đoạn- để sinh lợi, để công việc làm ăn được phát đạt.
     Có một vài người đã dâng mình làm tôi tớ Chúa, tức là đã từ bỏ mọi sự của thế gian để phụng sự Chúa trong thiên chức linh mục và tu sĩ, nhưng họ lại còn làm những chuyện mà người đời hay làm: họ buôn bán bất động sản, họ còn cho vay lấy lời, họ còn làm áp phe để có tiền nhiều hơn, cái “mác” linh mục và tu sĩ cũng làm cho họ dễ dàng trục lợi hơn khi buôn bán...
     Giám Chỉ Tử dùng thủ đoạn mánh khóe để trục lợi, nên không ngần ngại làm vở viên ngọc để được nhiều sản phẩm tinh vi hơn, đó là bản chất của người buôn bán đặt cái lợi trên cái đẹp của viên ngọc.
     Ước gì những người đã dâng mình làm tôi Chúa biết đi “buôn” các linh hồn về cho Chúa, biết dùng tiền bạc dư thừa ấy để an ủi giúp đỡ những người nghèo khó bất hạnh, vì họ là những ngân hàng của người muốn vào Nước Trời, hơn là đem tiền bạc đi buôn bán đầu tư bất động sản, áp phe.v.v...
     Chết đi thì tiền bạc và bất động sản không thể đem theo được, nhưng những việc lành sẽ đi cùng chúng ta đến trước tòa phán xét của Thiên Chúa để biện hộ và bênh vực cho chúng ta.
99.  CON RẬN TRANH ĐẤT
Có ba con rận đang cãi nhau, một con khác đi đến hiếu kỳ hỏi: “Các anh cãi nhau chuyện gì thế ?”
Ba con rận nói: “Đang tranh chấp miếng đất tốt nhất.”
Té ra là chúng nó đang ở nhờ trên thân của một con lợn, đang vì địa bàn làm ăn mà bất bình với nhau. Con rận qua đường ấy rất kinh ngạc, cuối cùng nhịn không được bèn nói: “Nếu các anh không lo lắng thì khi đến tháng chạp cúng tế, bởi vì con lợn này quá béo ụt ịt, nên bị con người giết làm thịt quay, như thế thì có gì để buồn bực nữa chứ ?”
Ba con rận nghe xong thì chợt hiểu ra, bèn cùng nhau dùng sức hút máu của con lợn mà uống, con lợn do đó mà từ từ gầy lại, khi đến tháng chạp cúng tế thì không bị người ta làm thịt.
(Hàn Phi tử: Thuyết lâm hạ)
Suy tư 99:
      Con người ta thường lo lắng, buồn phiền vì những gì của mình tạo ra do mồ hôi nước mắt, hoặc của tổ tiên ông bà để lại, mà bị kẻ khác ngang nhiên cướp lấy, thì nhất định sẽ uất ức, và khi bị chèn ép quá thì đứng lên quyết đòi lại với bất cứ giá nào, kể cả sinh mạng, bởi vì Chúa Giê-su đã nói: “Kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó.”[15]
     Đòi lại những gì của mình đã bị người khác cướp đi là chuyện chính đáng, có đạo lý hơn ba con rận đang tranh chấp nhau vì miếng đất làm ăn, mà miếng đất đó là thân xác con lợn, chứ không phải sở hữu của ba con rận.
     Thời nay có những người thường ỷ vào chức quyền để cướp bóc tài sản tổ tiên để lại của người khác, họ tranh chấp nhau vì những miếng đất không phải của họ, họ tranh chấp nhau vì đất hương hỏa của người khác quá tốt để đầu tư làm ăn buôn bán, họ giành nhau “ăn” đất của người khác mà quên mất rằng, một ngày nào đó họ sẽ từ bỏ tất cả để ra trình diện trước tòa án rất công thẳng của Thiên Chúa, đến lúc này thì tiền lợi bạc tỷ từ miếng đất cũng không giúp ích được gì cho họ, quyền cao chức trọng cũng không giúp được gì cho họ thoát khỏi sự phán xét của Thiên Chúa, ôi thật khôn nạn đời đời cho họ.
     Ba con rận còn có chút khôn ngoan để nghe lời khuyên, huống hồ là con người há lại không có con mắt xác thịt để thấy người làm ác bị quả báo, há không có cn mắt luong tâm để nhìn thấy được sự sai trái của mình sao ?
100.  MUA NHÀ ĐỂ TRỐN HÀNG XÓM HUNG HÃN
Có một người, mà người hàng xóm bên cạnh là một người rất hung hãn, làm cho anh ta cả ngày nơm nớp lo sợ, sợ ông ta hãm hại. Cuối cùng thì anh ta cũng chịu không nổi nên quyết định bán căn nhà, dời đi nơi khác ở.
Bạn bè của anh ta nói: “Anh cần gì phải dọn nhà đi nơi khác, để coi ông ta giở hết trò xấu thì báo ứng lập tức đến liền, anh nên đợi mà xem.”
Người ấy trả lời: “Tôi lo là lo ông ta dùng tôi để làm chuyện xấu cuối cùng ấy mà.”
Cho nên anh ta bán nhà gấp gấp, đi thật xa để tránh người hàng xóm hung hãn ấy.
(Hàn Phi tử: Thuyết lâm hạ)

Suy tư 100:
      Chúa Giê-su dạy chúng ta yêu người lân cận như yêu chính mình: người lân cận là người hôm qua chỉ đường giúp tôi tìm ra đại chỉ của người bạn; người lân cận là người sáng nay mới mở mắt đã chửi toáng nhà tôi vì chuyện con gà con vịt qua vườn họ tìm thức ăn; người lân cận là người khi gia đình tôi hoạn nạn bà con đều ở xa, thì chính họ đến giúp đỡ gia đình tôi; người lân cận là người đang làm việc cùng công ty, học cùng trường và những người mà tôi tiếp xúc gặp gỡ hằng ngày...
     Người lân cận của chúng ta gồm đủ nhiều hạng người, mỗi người một tính khí, môi trường giáo dục không giống nhau, nhưng Chúa Giê-su dạy chúng ta phải yêu mến họ như yêu chính bản thân mình. Đó là một giáo lý mới rất phù hợp cho mọi thời đại.
    Dọn nhà đi nơi khác là hạ sách, dùng gương tốt để cảm hóa người hung hãn là thượng sách, người Ki-tô hữu luôn dùng cách thượng sách để trở thành bạn hữu của người hung hãn, nghĩa là họ dùng bác ái yêu thương, thông cảm và tha thứ để có thêm nhiều người lân cận hàng xóm tốt...
101.  TẶNG CHUÔNG XIN ĐƯỜNG
Trí Bá của nước Tấn muốn đi đánh nước Cừu Do, nhưng tình hình đường sá của nước Cừu Do rất khó khăn và nguy hiểm, bất lợi cho quân đội tiến binh.
Để giải quyết vấn đề này, Trí Bá nhờ người đúc một cái chuông lớn, sai sứ giả đi nước Cừu Do nói rất nhiều lời nghe rất hay, muốn đem chuông tặng cho vua nước Cừu Do, vua nước Cừu Do rất vui vẻ và đắc ý, lập tức ra lệnh cho người sửa chữa toàn bộ đường đi để vận chuyển chuông lớn về. Các đại thần Xích Chương Man Chi ngăn cản, nói: “Quan hệ giữa Cừu Do và nước Tấn là lấy tiểu quốc phục dịch đại quốc, kết quả đại quốc lại đem lễ vật tặng cho tiểu quốc, chắc hẳn là quân đội sẽ theo sau chuông lớn để tiến vào nước ta.”
Vua nước Cừu Do không nghe, khăng khăng làm theo ý mình đem chuông vận chuyển về, quả nhiên dẫn tới tai họa mất nước.
(Hàn Phi tử: Thuyết lâm hạ)

Suy tư 101:
      Người quyết tâm chiếm đoạt của người khác thì trước sau gì họ cũng chiếm đoạt được, nhất là những người có trong tay vũ khí và quyền lực. Họ dùng mọi cách và mọi thủ đoạn để chiếm đoạt, dù thủ đoạn ấy tàn ác hại đến sinh mạng của người khác, mà thủ đoạn họ thường hay dùng nhất là: giả dối tâng bốc, quà tặng hậu hỉ và dùng lời lẽ ngon ngọt xoa dịu...
     Ma quỷ một khi muốn chiếm đoạt linh hồn của con người, thì nó dùng tất cả mọi thủ đoạn tinh vi để chiếm đoạt:
-       Nó dùng sự tâng bốc giả dối nói: Mình là người rất khiêm nhường biết phải biết trái, chẳng qua là vì cực chẳng đã mới làm như thế mà thôi, chứ thật ra mình rất muốn điều có ích cho mọi người.
-       Nó dùng quà tặng hậu hỉ: Ừ, thì là lòng tốt của người ta mà, mình không nhận thì phụ lòng tốt của họ làm họ buồn, hơn nữa mình đâu có ăn cướp gì của ai, nhận quà cũng là một đức ái vậy...
-       Nó dùng lời lẽ ngon ngọt xoa dịu: Ái dà, có gì đâu, mình làm vậy là vì đức tin đấy, trong Chúa Giê-su mọi người đều là anh em với nhau, nhường họ chút xíu có sao đâu...
Thế là –nếu không cảnh giác- thì ngay cả linh hồn kiên cường nhất cũng sẽ gục ngã trước những cám dỗ tinh vi mà hợp lý ấy của ma quỷ. Cho nên, lời dạy của Chúa Giê-su vẫn luôn là lời cảnh cáo và thức tỉnh chúng ta: “Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn.”[16]
Nước Cừu Do bị diệt vong là bởi vì nhà vua ham quà tặng với lời lẽ ngon ngọt êm tai, mà không nghe lời can gián của các đại thần.
Người biết tỉnh thức và cầu nguyện thì chắc chắn sẽ không bị ma quỷ cám dỗ và thế gian lợi dụng...
102.  BẠN CŨ LÀM QUAN
Trung Hành Văn Tử của nước Tấn, vì thất bại trong việc tranh giành quyền lực, nên để bảo toàn tính mạng màn bằng mọi giá phải chạy trốn ra khỏi nước Tấn. Trên đường chạy trốn, một tên tùy tùng của ông ta nói: “Quan huyện ở đây là thuộc hạ của ngài trước đây, tại sao chúng ta không tạm thời vào ông ta nghỉ ngơi nhờ một đêm, luôn tiện đợi đội xe phía sau vận chuyển lương thực đến ?”
Văn Tử trả lời: “Trước đây chỉ cần ta có thái độ thích âm nhạc, thì ông ta đem tới tặng một cây đàn; nếu ta nói thích ngọc bội thì ông ta tặng ngọc. Từ tình huống đó mà nhìn thì ông ta chỉ muốn phụ họa theo ta, đối với ta rất tốt, nhưng hoàn toàn không phải thật tâm tốt với ta, muốn làm sự nguy hiểm cho ta, uốn nắn cái sai lầm của ta, cho nên ta lo lắng là bây giờ nó đang tính lợi dụng ta, đi tìm người khác thì hay hơn.”
Bởi vì có một mối lo nghĩ cho nên Trung Hành Văn Tử cứ một mạch mà đi không ngừng nghỉ, vội vàng rời khỏi cái huyện ấy. Quan huyện của huyện ấy quả nhiên như sự dự liệu của Văn Tử, chận đứng hai xe vận chuyển lương thực của Văn Tử đem dâng cho vua nước Tấn, đúng là kẻ bợ đít.
(Hàn Phi tử: Thuyết lâm hạ)
Suy tư 102:
     Có những người khi thất thế sa cơ hoặc công chưa thành danh chưa toại, thì cam tâm luồn cúi nịnh hót người khác để tiến thân, khi công danh đã có thì đối xử với các ân nhân của mình như người xa lạ và có khi như kẻ thù, tại sao vậy ? Thưa, là vì những người ấy không có cái tâm biết ơn, mà chỉ biết lợi dụng người khác cách hèn hạ.
     Có những người khi còn hàn vi thì được người này người nó thương mến giúp đỡ, bởi vì họ sống rất đàng hoàng, nhưng khi có chút tiền rủng rỉnh trong túi thì chẳng có ai đến với họ nữa, bởi vì người hàn vi ấy đã biết hếch mặt lên trời khi nói chuyện với các ân nhân, biết gắt gỏng hạch hỏi những người đã từng giúp đỡ bao bọc mình, tại sao vậy ? Thưa, là vì những người hàn vi ấy không có cái tâm khiêm tốn, và cũng không có cái đầu để suy nghĩ, mà chỉ có sự vô ơn mà thôi.
     Có được người bạn làm quan thì những người bạn khác hãnh diện về họ. Nhưng có người bạn làm quan hách dịch, kiêu ngạo, vô ơn thì chẳng có người bạn tôt nào lui tới, bởi vì một người bạn tự trọng thì không bao giờ bén mảng đến nhà người bạn làm quan mà vô ơn..
103.  NHẠC CHÍNH TỬ XUÂN THÍCH CHỮ TÍN
Nước Tề công đánh nước Lỗ rất mãnh liệt, nước Lỗ liên tục đại bại và muốn cầu hòa, nước Tề muốn nước Lỗ phải đem Sàm Đỉnh cho họ rồi mới bãi binh.
Thực ra thì vua nước Lỗ không nở đem Sàm Đỉnh đi cho nước Tề, bèn làm giả người khác để đem qua nước Tề. Nước Tề nhìn thấy Sàm Đỉnh đem tới là giả chứ không phải thật, nhưng vua nước Lỗ cứ khăng khăng nói là thật, thế là vua nước Tề nói: “Cho gọi Nhạc Chính Tử Xuân đến, nếu ông ta nói Sàm Đỉnh là thật thì chúng tôi tin.”
Vua nước Lỗ cho mời Nhạc Chính Tử Xuân đến, Nhạc Chính Tử Xuân sau khi hiểu rõ sự tình thì hỏi: “Tại sao không đem Sàm Đỉnh thật để tặng ?
Vua nước Lỗ nói: “Ta thích Sàm Đỉnh, không nở đem tặng.”
Nhạc Chính Tử Xuân nghe xong thì chỉ nói: “Tôi cũng thích sự thành tín của tôi.”
(Hàn Phi tử: Thuyết lâm hạ)

Suy tư 103:
      Có những cuộc chiến tranh tàn khốc mà lý do là một bên không giữ trọn chữ tín đã ký kết; có những cuộc tình ngỡ là rất đẹp, nhưng kết cuộc là đau thương vì một bên không giữ được chữ tín của tình yêu; có những hợp đồng rất công bằng, nhưng rốt cuộc là phải đưa nhau ra tòa là vì có một bên không giữ được chữ tín mà mình đã ký; có những người bạn khi hoạn nạn thì có nhau, nhưng khi giàu có ra thì tình bạn không còn, bởi vì có một bên không giữ được chữ tín với bạn bè...
     Muốn bảo vệ danh dự của mình thì phải có chữ tín; muốn được người khác kính nể thì cần phải có chữ tín; muốn làm ăn buôn bán tốt đẹp thì phải có chữ tín, bởi vì chữ tín là cốt lõi của mọi phép xã giao hằng ngày.
     Đức tin của người Ki-tô hữu thì vượt xa hơn cả chữ tín của người đời, bởi vì chữ tín của người đời thì dựa vào danh dự cá nhân và hoàn cảnh của đối phương mà hành xử chữ tín, nhưng đức tin của người Ki-tô hữu thì dựa vào Thiên Chúa mà đối xử với mọi người như đối xử với chính Ngài, cho nên chữ tín của họ càng “nặng ký” hơn.
-       Nhờ có đức tin mà tình yêu vợ chồng được chung thủy.
-       Nhờ có đức tin mà tình bạn được thăng tiến.
-       Nhờ có đức tin mà cuộc sống của người Ki-tô hữu dễ chịu hơn, vì ai cũng là anh chị em của mình trong Chúa Giê-su.
-       Nhờ có đức tin mà người Ki-tô hữu luôn chu toàn chữ tín trong mọi công việc được giao phó...
Nhờ đức tin mà chúng ta –người Ki-tô hữu- biết làm cho chữ tín của mình ngày càng nổi bật lên tinh thần bác ái và phục vụ của người môn đệ Chúa Giê-su.
104.  TRỤ LÀM ĐŨA BẰNG NGÀ VOI
Trụ vương của Thương triều ra lệnh cho mọi người dùng ngà voi làm đũa, chú ruột của ông ta là Cơ tử bèn bắt đầu lo lắng sợ hãi, sợ rằng không lâu nữa thiên hạ sẽ đại loạn.
Đũa ngà voi thì không hợp với cái nồi nấu ăn bằng đất sét,nên nhất định phải dùng loại đá ngọc đẹp để làm lý dĩa; mà đũa ngà voi, ly dĩa thì nhất định không hợp với thức ăn rau cỏ thô thiển, nó chỉ hợp với sơn hào hải vị mới đúng; ăn sơn hào hải vị thì nhất định không mặc ngắn vải thô, nhưng phải mặc lụa là gấm vóc, như trong cung điện nhà cửa sang trọng dùng mới đúng.
Năm năm sau, bởi vì Trụ vương xa hoa quá độ, bạo ngược vô đạo, nên quốc gia bị diệt vong.
(Hàn Phi tử: Dụ lão)
Suy tư 104:
      Thời nay có những cầu tiêu của đại gia được dát bằng vàng ròng, xa xỉ hơn cả các vua chúa thời xưa; thời nay có các đại gia sống cực kỳ xa xỉ, lãng phí, ngông cuồng hơn cả vua Trụ ngày xưa bên Tàu, họ mua xe hơi cả triệu đô la để chạy trên những con đường chật hẹp, không phải để đi làm, nhưng là để khoe khoang cái giàu có và chơi ngông của mình; thời nay có những người ăn cướp tiền bạc của nhà nước để ăn chơi trác táng, bao gái, trụy lạc và nuôi băng nhóm xã hội đen để làm khổ dân lành...
     Vua Trụ vì muốn người dân khỏi oán mình sống trụy lạc xa xỉ, nên ra lệnh bắt mọi người phải dùng đũa bằng ngà voi để ăn cơm, thế là loạn lạc xảy ra, bởi vì những người có thể dùng đũa ngà voi để ăn cơm thì chỉ có một số người làm quan lớn và những người trong cung điện nhà vua mà thôi.
     Một cái lệnh đưa ra không hợp với thực tế cuộc sống của bá tánh, thì nhất định sẽ làm cho bá tánh khổ và uất ức, và đó chính là nguyên nhân của loạn lạc, chống đối, bạo động và cướp bóc, gây nên sự bất an cho xã hội...
105.  CỔ DƯƠNG YÊU CHỦ
Quân đội của hai nước Sở và Tấn đánh giáp lá cà ở Yên Lăng, quân Sở bị thua, con mắt của Sở Cộng vương bị địch quân bắn trúng bị thương.
Khi chiến sự đến hồi quyết liệt, trung quân tư mã Tử Phản của nước Sở rất khát nước nên nói với tùy tùng đem nước đến, vừa lúc cũng hết nước, người theo hầu là Cổ Dương không đành lòng để chủ mình phải khát nước, bèn rót một ly rượu cho chủ nhân uống.
Tử Phản cấm ly và ngửi, cảm thấy không phải là nước, nói: “Đây là rượu, đem xuống.”
Cổ Dương lập tức biện luận là không phải rượu, Tử Phản cầm lấy và uống.
Tử Phản là một người rất thích uống rượu, mỗi lần uống được rượu thì hình như uống không ngừng ly, lần này cũng vậy, kết quả lại say khướt nơi chiến trường.
Tình thế khẩn trương tạm ổn chút xíu, vì Sở Cộng vương bị thương nơi mắt, nên sai người triệu tư mã Tử Phản đến, muốn tạm thời đem quyền chỉ huy trao lại cho ông ta, và ra lệnh cho ông ta chỉnh đốn lại quân đội để tiến hành phản công. Tử Phản toàn thân nực mùi rượu, bèn thoái thác nói trong lòng bệnh nên không thể được.
Sở Cộng vương lo lắng cho bệnh tình của Tử Phản, bèn thân hành đến trướng của Tử Phản thăm ông ta, nhưng rất kinh ngạc khi thấy Tử Phản say khướt mềm nhão như bùn ! Ông ta rất giận dữ, chiến sự cảm thấy vô vọng, thế là ban sư hồi triều.
Sau khi về nước, Sở Cộng vương lập tức giết tư mã Tử Phản, tử thi thì vẫn treo trên phố bêu trước đám đông.
(Hàn Phi tử: Thập quá)
Suy tư 105:
      Cuộc sống gia đình, có những lúc cha mẹ trở thành tác nhân phạm tội cho con cái:
-       Con cái khát nước thay vì lấy nước cho con uống, thì đưa tiền cho con tự mình đi mua, thay vì mua nước con cái lại đi mua những thức ăn uống khác không hợp với tuổi chúng nó, như những thức uống cho kích thích...
-       Con cái xin vài trăm đồng mua cây bút, cha mẹ cho luôn cả trăm ngàn, thế là con cái tha hồ tiêu xài, lâu ngày thành thói quen tiêu tiền, dến khi không có thì trở thành trộm cắp.
-       Con cái muốn cha mẹ đi họp phụ huynh với mình, nhưng cha mẹ thoái thác bận việc không đi, thế là con cái bất cần cha mẹ, cũng bất cần hỏi ý kiến trong việc học hành.
Không phải con cái mình không ngoan, nhưng là vì chính cha mẹ đã coi nhẹ việc dạy dỗ con cái, không nghiêm khắc trong những sinh hoạt của con mình, đó chính là nguyên nhân dẫn con cái trở thành tội phạm và trở thành người xấu.
Ma quỷ rất tinh vi khi cám dỗ cha mẹ về lòng thương yêu của mình đối với con cái, nó dùng lòng yêu thương của cha mẹ để biện hộ cho việc làm nuông chiều con cái của họ, nào là nó học hành mệt nhọc, nó gần thi cử rồi, nó lo lắng học hành đến phát bệnh.v.v...và thế là tiền bạc bỏ ra cho chúng nó thoải mái bù lại, để chúng nó tự do đi chơi cho thoải mái sau những ký thi cử...
Thế là linh hồn của con cái bị ma quỷ nắm chặt, cuộc sống chúng nó trở thành nô lệ cho tội lỗi và là mối nguy hiểm cho xã hội...
106.  TRIỆU TƯƠNG TỬ HỌC LÁI XE
Triệu Tương Tử đi theo Vương Ư Kỳ để học lái xe, Vương Ư Kỳ sau khi đem tất cả kỹ thuật của ông ta truyền lại cho Triệu Tương Tử, thì Triệu Tương Tử bèn cùng đua với Vương Ư Kỳ, họ trao đổi ngựa kéo xe đến ba lần, và Triệu Tương Tử cả ba lần đều thất bại.
Tương Tử báo oán, nói: “Anh chưa đem toàn bộ kỹ thuật dạy lại cho tôi !”
Ư Kỳ nói: “Kỹ thuật đã dạy hết rồi, chẳng qua là anh không biết vận dụng mà thôi ! Lái xe nên chú trọng là xe và ngựa phải phối hợp đắc nghi, phu xe và ngựa phải nhịp nhàng cân đối, như thế xe mới chạy được nhanh. Còn anh thì chỉ cần chạy sau một chút bèn liều mạng muốn vượt lên, vừa vượt qua trước thì liền lo lắng sợ bị đuổi lên. Toàn bộ tâm trí của anh đều để ở trên thân tôi, lơ đãng về hành động của ngựa thì làm sao có thể lái xe giỏi được chứ ?”
(Hàn Phi tử: Dụ lão)

Suy tư 106:
     Ngựa, xe và phu xe phải nhịp nhàng cân đối thì xe mới chạy được nhanh, nếu người phu xe lơ đãng để ngựa tự do chạy thì chiếc xe nhất định phải lật nhào, và hậu quả thì có khi mất mạng như chơi.
Công việc, hoàn cảnh và con người cần phải cân đối nhịp nhàng thì cuộc sống mới có cơ hội thăng tiến, mà cái tâm con người thì điều chỉnh tất cả:
-       Hoàn cảnh tốt, công việc tốt mà tâm con người bất định, thì thất bại.
-       Công việc chưa tốt, hoàn cảnh khắc khe mà tâm con người ổn định, thì trước sau gì cũng gặt hái được thành công.
Trong đời sống tâm linh của người Ki-tô hữu cung thế, tâm ổn định là tâm biết cầu nguyện, người biết cầu nguyện là người luôn kết hợp với Thiên Chúa , mà hoàn cảnh và công việc –dù tốt hay xấu- chỉ là bối cảnh làm cho việc cầu nguyện càng thêm phong phú, và đức tin càng thêm tiến triển.
Dùng tâm đức tin để thay đổi hoàn cảnh, dùng tâm đức ái để làm đẹp công việc, và lấy tâm đức cậy để phó thác hoàn cảnh và công việc của mình cho Thiên Chúa, Đấng tạo dựng muôn loài và là Cha của chúng ta ở trên trời...
Đó chính là người biết lái xe cuộc đời của mình vậy !
107.  MẶC TỬ BUỒN LÂY
Mặc tử và đệ tử đi ngang qua nhà của phường nhuộm, nhìn thấy công nhân làm việc trong phường nhuộm, lấy từng bó tơ lụa màu trắng bỏ vào trong các nồi nhuộm không giống nhau. Đợi một lúc vớt ra thì không còn màu trắng nữa, mà là thành tấm lụa sáu màu.
“Ái dà !” Mặc tử hình như trong lòng có điều cảm khái, thở ra một hơi, thế là các đệ tử hỏi nguyên nhân sao lại thở dài.
Mặc tử nói: “Các ngươi coi, tơ lụa chỉ cần bỏ vào trong nồi nhuộm màu đen thì thành màu đen, bỏ vào trong nồi nhuộm màu đỏ thì biến thành màu đỏ. Con người ta cũng như vậy, tâm tính của mỗi người vốn dĩ là thuần khiết trắng như tơ lụa, nhưng bị cái nồi nhuộm hoàn cảnh này ảnh hưởng, do đó mà biến thành người này tốt người kia xấu.”
(Mặc tử: Sở nhuộm)
 
Suy tư 107:
      Cổ nhân nói: “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”, đó cũng là nguyên nhân để cho Mặc tử thở dài, và không những chỉ có Mặc tử thở dài mà thôi, mà là tất cả những ai thấu hiểu ành hưởng lớn lao của hoàn cảnh thì cũng đều thở dài:
-       Có những cô gái về nhà rất ngoan ngoãn, bố mẹ hãnh diện về con gái mình, nhưng “đùng” một cái, nghe con gái bị bắt vì hút xì ke trong khách sạn với trai, bởi vì cô ta đã chơi với những bạn bè xấu, đua đòi, hút xách...
-       Có những chàng trai thông minh hiền lành, mọi người đều mến, nhưng “đùng” một cái, bị kêu tù chung thân vì tội giết bạn gái do ghen tương mà ra, đó là vì hoàn cảnh đẩy đưa yêu cuồng sống vội.
Hoàn cảnh ít khi đẩy đưa con người vào cuộc sống tốt, dù rằng hoàn cảnh tốt có rất nhiều chung quanh chúng ta; nhưng hoàn cảnh đẩy đưa vào cuộc sống xấu thì rất nhanh và nhiều hơn, bởi vì con người ta ai cũng bị gắn liền với ăn mặc và hưởng thụ, cho nên thường bị hoàn cảnh chung quanh nhuộm đỏ nhuộm đen.
Chúa Giê-su dạy các môn đệ của mình: “Anh em phải cẩn thận, phải coi chừng men Pha-ri-sêu và Xa-đốc.”[17] Men Pha-ri-sêu và Xa-đốc là hoàn cảnh cụ thể thời của Chúa Giê-su, men giả dối, men giả hình, men khoe khoang, men kiêu ngạo.v.v... những cái men này Chúa Giê-su nhắc nhở các môn đệ đừng dính vào kẻo trở thành kẻ chống đối lại lời rao giảng của Ngài.
“Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” cũng là với ý nghĩa đó.
108.  TÀI LỚN THÀNH TỰU MUỘN
Trang vương của nước Sở vừa lên ngôi, liên tục ba năm việc gì cũng không làm. Hựu tư mã của triều đình trong lòng rất nôn nóng, một hôm nhịn không nổi ngầm nói với Trang vương: “Đại vương, có một con chim lớn đậu trên đỉnh núi phía nam, ba năm trời không vỗ cánh, không bay mà cũng không kêu, an tĩnh đến nổi người ta tưởng lầm là không có nó, đại vương nghĩ rằng đó là loại chim gì ?”
Trang vương hiểu ý tứ của Hựu tư mã, trả lời: “Ba năm không vỗ cánh, là vì nó muốn cánh lớn dài mà chắc nịch; không bay mà cũng không kêu là nó muốn quan sát tình huống của bên dưới. Nếu nó không bay thì thôi, nhưng nếu nó bay thì bay vút tận trời cao; nó không kêu thì thôi, chứ nếu nó kêu thì nhất định hống to kinh người.”
Nửa năm sau, Sở Trang vương bắt đầu lo chuyện chính sự, chỉ một thời gian ngắn đã bãi miễn mười ông quan sứ, cất nhắc chín quan viên, xử phạt năm vị đại thần, lưu dụng sáu vị xử sĩ, khí thế quốc gia đổi mới, biến tình hình thành mới tất cả, chính trị thái bình.
Sở Trang vương không vì thế mà lấy làm thỏa mãn, ông ta còn chỉ huy quân đội tiến đánh nước Tề, đánh bại nước Tấn, trở thành bá chủ thiên hạ.
(Mặc tử: Dụ lão)

Suy tư 108:
      Có những em bé chậm nói, đến khi nói được thì là nói những lời như người lớn nói; có những trẻ em chậm chạp trong lời nói, nhưng khi lớn lên thì ăn nói khôn ngoan...
     Thời nay có những người thông minh nhưng tính khí bộp chộp không kiên nhẫn, thế là trở thành kẻ dại dột, làm hư bột hư đường (chuyện đại sự), bởi bì họ ỷ lại vào cái thông minh của mình mà không dựa vào nền tảng của suy tư; mà những người khôn ngoan thì xem ra chậm chạp nhưng lại thành công, bởi vì họ dùng:
-       50% để suy nghĩ.
-       35% để nghe.
-       10% để nhìn.
-       05% để nói.
Nói thật ít, nhìn thật rõ, nghe minh bạch và suy thật nhiều, thì nhất định sẽ thành công.
Sách Châm Ngôn dạy rằng:
“Người nói năng dè dặt là người hiểu biết,
kẻ giữ được điềm tĩnh là kẻ khôn ngoan.
Nếu biết giữ thinh lặng,
kẻ ngu cũng được kể là người khôn ngoan;
nếu biết ngậm môi,
kẻ đó được coi là người thông hiểu.”[18]
Sở Trang vương không vội vàng hấp tấp hành xử việc nước khi mới lên ngôi vua, nhưng nghe ngóng, quan sát, suy nghĩ trong ba năm mới bắt đầu trị nước, kết quả thành công thật rực rỡ.
Đó chính là sự khôn ngoan vậy.

109.  CÚ VỌ VÀ CHIM NGÓI
Con cú vọ, chúng ta thường gọi là cú mèo; chim ngói, thì cũng là chim cu, chúng nó cùng ở trong một khu rừng. Một buổi sáng nọ, khi chim ngói bay đi tìm mồi thì nhìn thấy trước mặt gia đình cú vọ đang dọn nhà.
Chim ngói rất kinh ngạc, cho rằng gia đình cú vọ không thích hoàn cảnh của rừng, cú vọ nói: “Không phải như thế, khu rừng này chúng tôi ở đã quen rồi, muốn rời cũng không rời được, nhưng các bạn hàng xóm rất ghét tiếng kêu của chúng tôi, cho nên chúng tôi không thể không dọn nhà đi nơi khác.”
Chim ngói nghe xong thì khuyên cú vọ: “Dọn nhà đi cũng không thể giải quyết được vấn đề căn bản này, nếu các anh không thay đổi tiếng kêu, thì đi đến đâu người ở đó cũng đuổi các anh đi.”
(Lưu Hướng: Thuyết Uyển, Đàm Tùng)
Suy tư 109:
     Chúng ta có thể đi ngoại quốc để cho người khác khỏi nhìn thấy cách sống bê bối mang tiếng mang tăm của mình, nhưng nếu chúng ta vẫn không sửa đổi cuộc sống của mình thì có ích chi, người ngoại quốc cũng vẫn xa tránh chúng ta vậy ! Nếu chúng ta từ bỏ miền bắc vào miền nam sinh sống để cuộc sống khá giả hơn, nhưng nếu ở miền nam mà chúng ta vẫn cứ làm biếng, chơi bời nhậu nhẹt thì nghèo vẫn nghèo. Quan trọng là cái tâm của chúng ta có quyết tâm sửa chữa những khuyết điểm của mình, và cố vươn lên hay không mà thôi ?
     Có một vài cha sở nói giáo xứ này giáo dân không hợp tác với mình nên xin đổi qua giáo xứ khác, đến giáo xứ khác cũng nói giáo dân ở đây cũng không chịu hợp tác với mình, thế là ngài trách móc giáo dân là không yêu mến nhà thờ, không muốn cộng tác với cha sở.v.v...
     Giáo dân không cộng tác với cha sở, điểm duy nhất và dễ hiểu nhất mà một vài cha sở không nhìn thấy, đó là: nhìn lại cá tính và cách sống đời linh mục của mình. Nếu các ngài không nhìn thấy khuyết điểm của mình, thì các ngài cũng sẽ không nhìn thấy ưu điểm của ai cả.
     Sửa đổi mình trước thì ở đâu cũng được mọi người đón nhận.
110.  CHIM SỢ CÁNH CUNG
Có một thần xạ thủ tên là Canh Doanh, một hôm cùng ngồi uống rượu với Ngụy vương trong vườn, ngước mặt lên trời nhìn thấy một con chim đang bay, bèn nói với Ngụy vương: “Tôi vì đại vương mà biểu diễn kéo cung bắn giả, nhưng kỹ thuật cũng có thể làm cho con chim rơi xuống.”
Ngụy vương không tin, cho rằng anh ta nói khoác, Canh Doanh chỉ cười cười, chuẩn bị tư thế tốt, kéo căng dây cung mà không có mũi tên, chỉ nghe dây cung bật một tiếng, chim nhạn đang bay trên không rơi thẳng xuống đất.
Ngụy vương kinh ngạc nói: “Kỹ thuật bắn cung thật có thể đạt đến trình độ như thế sao ?”
Canh Doanh trả lời: “Đại vương, thật ra không phải kỹ thuật bắn cung của tôi cao minh, mà là vì con chim nhạn này đã bị thương trước.”
Ngụy vương cảm thấy kỳ lạ, bèn hỏi: “Chim nhạn lớn đang bay trên không, làm sao ngươi biết nó bị thương chứ ?”
-         “Nó bay rất chậm, tiếng kêu lại bi thảm chắc hẳn là vì vết thương chưa được lành, do đó mà trong lòng nó rất sợ hãi vì chưa bình phục, cho nên khi nghe tiếng của dây cung bật thì lập tức kinh hoàng lúng túng, và không kể có mũi tên hay bắn tới hay không, thì theo bản năng liền mảnh liệt vỗ cánh bay lên, kết quả là đụng đến vết thương cũ, hai cánh chịu không nỗi cơn đau ấy, thế là từ trên không rơi xuống đất vậy.”
(Chiến quốc sách: Sở sách)

Suy tư 110:
      Con chim đã một lần bị chết hụt, thì sợ nghe tiếng bật của cây cung, sợ cành cây bị ngọn gió lay động, và sợ luôn cả cành cây có hình dáng cây cung.
     Sau khi phạm tội, con người ta thường có hai loại: một là cứ ở lì trong tội và phạm thêm nhiều tội ác; hai là đứng dậy tránh xa các dịp tội và cố gắng sửa đổi lại cuộc sống của mình.
     Ma quỷ thường lợi dụng khi con người sa ngã thì tấn công thêm nhiều, chiêu bài mà nó tân công là làm cho người Ki-tô hữu ngã lòng trông cậy vào tình thương của Thiên Chúa:
-       Nó thường nói: tội mày lớn lắm Chúa không tha cho đâu. Thế là mất lòng tin vào Chúa.
-       Nó thường nói: mới phạm một lần có gì đâu, có nhiều người phạm tội tày trời đó mà Chúa có phạt đâu. Thế là cứ tiếp tục phạm tội.
-       Nó thường nói: không sao cả, Chúa rất nhân từ, Ngài không phạt khi mày có tội đâu.v.v...
Con người ta thường mỏng dòn yếu đuối, hể đã một lần lầm lỡ phạm tội, thì rất dễ dàng tái phạm lần hai lần ba và càng phạm càng nặng nề hơn.
Người Ki-tô hữu khôn ngoan sau khi lỡ phạm tội, thì họ càng gia tăng cầu nguyện, nhanh chóng đến với bí tích Hòa Giải, quyết tâm xa lánh các dịp tội, nhìn thấy những gì có thể làm cho họ sa ngã lại thì dứt khoác là họ tránh xa.
“Tránh voi chẳng xấu mặt nào” vì con voi to lớn dữ dằn tránh nó thì có gì là xấu. Tránh tội cũng chẳng xấu xa gì, vì tội có thể làm cho chúng ta mất sự sống đời đời với Thiên Chúa, tránh nó (tội) thì có gì là xấu ! Ha ha ha...
111.  ĐỊNH MỘT ĐÀNG LÀM CHẰNG MỘT NẺO
Quý Lương đi du ngoạn bên ngoài, vừa đúng lúc gặp một người quen đuổi cho kịp xe đi lến phía bắc, Quý Lương vẫy tay với anh ta, và hỏi anh ta đi đâu vậy.
Người bạn rất là phấn khởi nói với Quý Lương: “Tôi muốn qua nước Sở đi du lịch.”
Quý Lương cảm thấy không hiểu ra sao cả, bèn nói: “Nước Sở ở phía nam, sao anh lại đi về phía bắc ?”
-         “Đừng có lo ! Ngựa của tớ là loại ngựa tốt thượng đẳng đó, chạy rất là nhanh”,  ngữ khí của anh ta đầy tự đắc và tự mãn.
Quý Lương dở khóc dở cười, nói: “Ngựa của anh tuy tốt, nhưng đường của anh đi không phải là đường qua nước Sở !”
-         “Yên tâm, tôi có đủ tiền đi du lịch mà !”
-         “Tiền đi du lịch có nhiều, nhưng phương hướng không đúng, thì cuối cùng cũng không thể đến được nước Sở.”
-         “Không sao cả, người đánh xe của tôi rất có bản lãnh, không ai bì được.”
Rốt cuộc người bạn của Quý Lương không nghe lời khuyến cáo của ông ta, cứ kiên trì đánh xe nhắm phía bắc mà tiến để đi đến nước Sở ở phía nam.
(Chiến quốc sách: Ngụy sách)
Suy tư 111:
      Đường đi của người Ki-tô hữu ở thế gian này là đường đi lên: đi lên thiên đàng, đi lên Nước Trời, đi lên cùng Cha là Đấng ngự trên trời, đi lên thiên đàng để sum họp hưởng phúc với Chúa Giê-su, Đức Mẹ Maria, các thiên thần và các thánh nam nữ...
     Không ai muốn đi Hà nội ở phía bắc mà lại nhắm hướng Sài Gòn phía nam mà đi, vì như thế là sai phương hướng. Phương tiện càng hiện đại thì khoảng cách càng xa, lãng phí cả tiền bạc, sức lực, thời gian và vật chất mà không đem lại ích lợi gì.
     Có một vài người Ki-tô hữu muốn đi lên thiên đàng nhưng lại nhắm hướng đi xuống hỏa ngục, nếu có người nhắc nhở thì họ nói cách tự đắc tự mãn rằng:
-       Tôi vẫn đọc kinh hằng ngày. Nhưng hằng ngày vẫn vu oan giá họa cho người khác.
-       Tôi vẫn đi lễ mỗi chủ nhật. Nhưng vẫn cứ vợ lớn vợ nhỏ và bồ nhí hàng tá.
-       Tôi vẫn đóng góp việc thiện cho nhà thờ. Nhưng vẫn cứ cho vay ăn lời cắt cổ người nghèo.
-       Tôi vẫn ăn chay mỗi ngày thứ sáu trong tuần. Nhưng vẫn đàng điếm nhậu nhẹt quắc cần câu những ngày khác...
Đọc kinh, đi dự thánh lễ, làm việc thiện hoặc là ăn chay hay là làm bất cứ việc tốt nào khác, thì đó là những phương tiện mà Thiên Chúa ban cho chúng ta, để chúng ta nhắm hướng lên trời mà đi. Nhưng dùng những phương tiện đó để che giấu làm mất phương hướng đi lên thiên đàng của mình là chuyện bất bình thường, lãng phí ơn sủng của Thiên Chúa ban cho, bởi vì không một người Ki-tô hữu nào muốn lên thiên đàng mà lại nhắm hướng hỏa ngục mà đi.
“Đi một đàng làm chằng một nẻo” là như thế, vừa uổng công lao sức lực của mình, vừa lãng phí ân sủng của Thiên Chúa ban cho. Uổng thật !
112.  MẤT BÒ MỚI LO LÀM CHUỒNG
Có một người đến nhà người khác làm khách, nhìn thấy ống khói nhà bếp của chủ nhân xây thẳng đứng, lại còn đối diện với đống củi bên cạnh, thì nói với chủ nhân: “Tiên sinh, tôi cảm thấy ngài nên đem ống khói xây lại thành cong cong, rồi đem đống củi ra xa một chút, như thế mới có thể tránh được nạn cháy nhà.”
Bởi vì ống khói và đống củi trong nhà để như thế đã lâu rồi, và từ trước đến nay chưa xảy ra chuyện gì, cho nên chủ nhân cũng không làm gì cả và cũng không nghe ý kiến của anh ta.
Sau đó không lâu, gia đình ấy quả nhiên bị cháy. Người nhà, hàng xóm, bạn bè đều chạy đến giúp chữa lửa, không ít người vì đó mà bị lửa cháy tóc và da mặt, tất cả mọi người đều tận lực mới dập tắt được ngọn lửa. Để biểu lộ lòng biết ơn nên chủ nhân của nhà ấy làm một bữa tiệc rượu, và chiếu theo công lao lớn nhỏ của mỗi người mà sắp xếp chỗ ngồi.
Trước khi nhập tiệc, có người nói với chủ nhân: “Nếu lúc trước đây ông mà nghe theo lời của người khách ấy, thì hôm nay không cần phải giết bò mua rượu để đãi khách. Rốt cuộc, người có kiến nghị anh mất bò mới lo làm chuồng ấy không được mời đến, ngược lại người sém đầu dập trán lại được mời lên bàn nhất.”
Chủ nhân chợt tỉnh ngộ, lập tức đi mời người khách ấy đến, để anh ta ngồi ghế thượng khách.
(Ban cổ, Hán thư, Hoắc Quang Truyền)
Suy tư 112:
      Nếu con người ta ai cũng có lòng khiêm tốn biết nghe lời ngay lẽ phải của người khôn ngoan, thì tránh được rất nhiều chuyện xấu, tiêu cực; nếu ai cũng biết khiêm tôn kiểm điểm công việc mình làm trong một ngày, thì đời sống tâm linh ngày càng hướng thượng, và cuộc sống sẽ tràn đầy những hy vọng và vui tươi hơn; nếu mỗi một người Ki-tô hữu biết nghe và thực hành Lời Chúa, thì không những cuộc sống của họ sẽ đổi mới, mà những người chung quanh họ cũng vì thế mà được thoải mái và hạnh phúc hơn.
     Mất bò mới lo làm chuồng thì cũng còn có thể chấp nhận được, bởi vì họ biết suy tư và kiểm điểm lại cuộc sống của mình, nhưng tệ hại nhất chính là những người mất bò rồi mà cũng không lo làm chuồng, họ hoặc là người kiêu ngạo và tự tôn, hoặc là người tự ti mặc cảm không muốn người khác biết cái dở cái xấu của mình.
     Chỉ có những ai có lòng khiêm tốn thật sự mới có lòng tự trọng và không tự ti, chỉ có những ai biết nghe lời nhắc nhở của người khác với lòng khiêm tốn mới không sợ mất bò rồi mới làm chuồng.
     Mà người Ki-tô hữu thì luôn luôn biết lắng nghe Lời Chúa, nên cuộc sống của họ luôn vui tươi, vì họ không phải lo vì chuyện mất bò, nhưng họ biết phó thác tất cả vào tình yêu của Thiên Chúa...
113.  CHÚT TÀI ĐÃ TRỔ HẾT
Kiềm là tên gọi tắt của tỉnh Quý Châu thuộc Trung Quốc, con lừa là loại động vậy không có ở địa phương này, có một người Quý Châu đi xa làm ăn buôn bán, nhìn thấy tính cách của con lừa vừa ôn thuần vừa có sức chịu đựng, bèn mua một con đem về quê mình, nhưng không ngờ địa thế của Quý Châu gập gềnh không thích hợp cho lừa đi, phong độ của lừa không dùng được tại hiện trường, nên được chủ nhân thả ra, sống chết mặc nó.
Con hổ ở trong núi khi đi tìm mồi thì phát hiện ra con lừa, bởi vì từ trước đến nay nó chưa hề thấy qua con vật nào lớn như thế, nên có chút sợ sệt nên không dám đến gần, chỉ dám thủng thẳng đi đi lại lại.
Con lừa có cảm giác con hổ có ý thù địch, nên la lớn “í ọ” để dọa cho con hổ sợ mà chạy đi.
La lớn mấy lần như thế, nên chỉ cần con hổ đi đến gần thì con lừa liền vừa la vừa vừa đạp để dọa cho con hổ chạy. Cuối cùng thì con hổ cũng quen như thế, và phát hiện con lừa chỉ có một chiêu ấy để dọa người mà thôi, thì hình như không còn chiêu nào khác nữa.
Thế là, gan con hổ từ từ lớn lên, nó tiến lên phía trước để đùa giỡn với con lừa và muốn thử sức nhẫn nại của nó. Cuối cùng, con hổ xác định bản lãnh con lừa chỉ có thế mà thôi, nên phấn chấn rống lên một tiếng thật lớn và nhảy vồ đến cắn chết con lừa, làm một bữa no nê.
(Liễu Tông Nguyên giả: tài hèn chí mọn)
Suy tư 113:
     Ma quỷ đến cám cám dỗ Chúa Giê-su, nhưng trong lòng chúng nó thì hoài nghi sợ hãi[19] không biết Ngài là người thế nào đây, có phải là vị đại tiên tri hay là người của Thiên Chúa ? Nhưng dù thế nào chăng nữa, sau ba chiêu độc địa vừa thử thách thăm dò bản lãnh của Chúa Giê-su, vừa khiêu khích Ngài, thì mà quỷ chịu thua và bỏ đi. Chúa Giê-su đã chiến thắng cơn cám dỗ, ba chiêu Ngài dùng để đánh ma quỷ là: thứ nhất là hy sinh hãm mình xác thịt, thứ hai là tin tưởng vào Thiên Chúa, và thứ ba là chỉ thờ lạy duy nhất một Thiên Chúa mà thôi.
-       Có một vài người Ki-tô hữu không có bản lãnh cầu nguyện, nên chỉ một chiêu nhẹ nhàng phổ thông của ma quỷ là hạ gục, đó là chiêu tiền tài.
-       Có một vài người Ki-tô hữu cũng có cầu nguyện và tin vào Chúa, nhưng lời cầu nguyện không thật lòng và lòng tin thì hời hợt, nên ma quỷ cũng chỉ cần dùng chiêu phô thông là hạ gục, chiêu đó là sắc dục và gái.
-       Có một vài người Ki-tô hữu cũng đi lễ sớm tối, cũng tham gia sinh hoạt các hội đoàn, tham gia các lớp giáo lý thánh kinh, nhưng thường đem những hiểu biết về giáo lý, về lễ nghi ra để biện hộ cho hành vi sai trái của mình, và đem những hiểu biết về Giáo Hội của mình ra để chỉ trích phê bình, nên ma quỷ chỉ dùng một chiêu xem ra cũng phổ thông để hạ gục họ, chiêu đó là danh vọng, quyền thế...
Cú đá hậu của con lừa cũng nguy hiểm và tiếng “í ọ” của nó cũng kinh dị nên làm cho con hổ nghi ngại, nhưng chỉ có í ọ và đá hậu mà thôi, thì đúng là chỉ có chút tài đã trổ ra hết, mất mạng là phải.
Lời cầu nguyện có sức mạnh kinh hồn, nhưng chỉ cầu nguyện “chay” mà không hy sinh, không làm việc lành, không tin tưởng vào lời cầu nguyện, không tín thác và yêu mến Chúa, thì đúng là tài hèn sức mọn, bị ma quỷ vồ mất linh hồn thì cũng đúng mà thôi.
     Ai hiểu được thì hiểu !
114.  ÔNG LÃO BÁN DẦU
Thời nhà Tống có một người tên là Trần Nghiêu Tư, kỷ thuật bắn cung của anh ta giỏi, do đó mà rất tự phụ, nên thường khoe khoang với người khác.
Một hôm, khi anh ta đang luyện bắn cung thì có một ông già bán dầu đến, ông già nhìn thấy anh ta xạ tiễn thì không vỗ tay khen giỏi như những người khác, mà chỉ gật nhẹ đầu thôi.
Trần Nghiêu Tư cảm thấy mình bị nhục, bèn cố ý nói với ông lão: “Này ông già, ông cũng biết bắn cung sao ?”
Lão già nói: “Mặc dù tôi không biết bắn cung, nhưng kỷ thuật bắn cung của anh cũng không có gì là hiếm lạ, chẳng qua là luyện tập bình thường mà thôi.”
Trần Nghiêu Tư nhìn thấy lão già coi thường bản lãnh của mình như thế thì rất giận dữ. Nhưng ông lão bán dầu thì bình tâm tịnh khí lấy hồ lô bỏ trên đất, rồi lại lấy một đồng tiền xu có lỗ nhỏ ở giữa để trên miệng hồ lô, sau đó dùng chiếc muôi múc đầy dầu, và từ từ đổ vào trong lỗ nhỏ đồng tiền cho dầu chảy xuống trong hồ lô, đồng tiền rõ ràng là không bị một chút dầu nào dính vào.
Lão ông nói với Trần Nghiêu Tư: “Anh coi, kỷ thuật đổ dầu của tôi cũng chẳng là cái gì cả, chẳng qua là luyện tập rồi quen mà thôi.”
Lời của ông lão làm cho Trần Nghiêu Tư hết đường nói, từ đó về sau anh ta không dám kiêu ngạo tự mãn nữa.
(Âu Dương Tu giả: Ông lão bán dầu)
Suy tư 114:
      Người Tàu có câu nói: “quen rồi thì tốt:習慣就好了”, có nghĩa là việc gì dù khó khăn mấy, mà nếu đã thích ứng được, quen rồi, thì không có chuyện gì xảy ra cả. Không có việc gì khó cả, chỉ cần có một tâm hồn quyết tâm luyện tập và kiên trì, thì sẽ thành công.
     Luyện tập cho tinh thông thì không phải một sớm một chiều mà thành công, nhưng luyện tập cả đời, nhất là trong vấn đề tu đức và đời sống tâm linh.
     Có một vài người cảm thấy tu đức của mình đủ rồi, nên chê người này làm biếng đi lễ, người kia giả hình giả bộ, chê người này không biết lo việc nhà thờ, chê người nọ không biết dạy con cái.v.v...
     Khi đem người này người nọ so sánh với mình là đường tu đức của mình đã thụt lùi, bởi vì nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu[20], đó chính là chân lý cho người khiêm tốn và là lời cảnh tỉnh cho người tự mãn.
     Tài bắn cung của Trần Nghiêu Tư cũng thuộc loại giỏi, nhưng anh ta sẽ giỏi hơn nữa nếu biết khiêm tốn tự bảo mình: tôi chưa giỏi, phải cố gắng hơn nữa.
Bí quyết thành công là ở đó vậy.
 
-----------------------------------------------------------------------
Dịch và viết suy tư xong ngày 1.4.2008
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.


[1] 2 Cr 4, 8-9.
[2] Mc 8, 15.
[3] Mt 6, 21.
[4] Mt 6, 9-13.
[5] Mt 20, 26-27.
[6] Mt 5, 38-42.
[7] Mt 5, 37.
[8] Mt 20, 24-28.
[9] 2 Cr 4, 10a.
[10] Cn 30, 11-14.
[11] Lc 2, 46-48.
[12] Gl 4, 8-9.
[13] Ga 6, 68.
[14] Mt 11, 28.
[15] Mt 6, 21.
[16] Mt 26, 41.
[17] Mt 16, 6.
[18] Cn 17, 27-28.
[19] Mt 4, 1-11.
[20] Mt 19, 30.