Thứ Bảy, 11 tháng 8, 2018

Chúa nhật 19 thường niên



CHÚA NHẬT 19 THƯỜNG NIÊN

Tin Mừng: Ga 6, 41-51.
“Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống.”


Bạn thân mến,
Trong lịch sử Trung Hoa, có những vị vua muốn được sống đời đời, tức là muốn trường sinh bất tử, cho nên đã tìm nhiều cách, sai phái nhiều người đi tìm thuốc trường sinh, nhưng nhiều người đã ra đi và không bao giờ trở lại vì họ đã chết, và các vị vua ấy cũng đã chết, bởi vì trên cõi đời này không có thứ lương thực nào có thể làm cho con người được trường sinh bất tử.
Nhưng cũng trên cõi đời này có thứ lương thực khiến cho chúng ta –người Ki-tô hữu- được sự sống đời đời, đó chính là lương thực từ trời xuống, tức là Lời Chúa và Mình Máu Thánh của Đức Chúa Giê-su.
1. Lời Chúa là lương thực hằng sống.
Lời Chúa nói với chúng ta qua mọi biến cố trong cuộc sống hàng ngày: thấy người bị tai nạn xe cộ, chúng ta liền nghĩ đến đây là Chúa dạy chúng ta phải cẩn thận khi đi đường; thấy người ta chửi bới thoá mạ nhau, chúng ta liền nghĩ đến Chúa dạy tôi phải sống hiền hoà với mọi người; thấy người đói ăn, nghèo khổ bất hạnh, chúng ta liền nghĩ đến Đức Chúa Giê-su đang ở trong họ, Ngài muốn tôi phải sống bác ái và yêu thương tha nhân như yêu chính Ngài...
Lời Chúa nói với chúng ta qua những vui buồn trong cuộc sống hằng ngày, nếu chúng ta biết hồi tâm suy tư những biến cố dưới ánh sáng của đức tin, thì chúng ta sẽ thấy Lời Chúa chính là lương thực hằng sống cho chúng ta. Có người vì yêu thích Lời Chúa mà cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn, nghĩa là họ biết nghe và thấy Lời Chúa trong cuộc sống rất bon chen của trần gian.

Lời Chúa cũng nói với chúng ta khi chúng ta đi tham dự thánh lễ và các bí tích, bởi vì chính trong thánh lễ hiến tế này, mà chúng ta được nghe chính tiếng nói của Thiên Chúa qua các ngôn sứ, các thánh Tông Đồ và nhất là trong bài Tin Mừng. Tuy nhiên, vẫn còn những lúc bạn và tôi cứ tưởng lương thực hằng sống chỉ là Mình Máu Thánh của Đức Chúa Ki-tô mà thôi, cho nên chúng ta không thiết tha nghe Lời Chúa trong thánh lễ, và vì thế mà -có nhiều lúc- bạn và tôi sống như những người chưa hề biết Phúc Âm là gì.
Lời Chúa là lương thực hằng sống giúp cho chúng ta hiểu rõ và thấu triệt tính chất hằng sống nơi bí tích Thánh Thể, không ai có thể hiểu rõ mầu nhiệm Thánh Thể, nếu không yêu mến và không thực hành Lời Chúa trong cuộc sống của mình.
2. Mình Máu Thánh Chúa là lương thực hằng sống.
Không một ai biết Đức Chúa Giê-su là Thiên Chúa nếu Chúa Cha không lôi kéo họ, cũng vậy không ai hiểu được bánh trường sinh là gì, nếu họ không được Lời Chúa soi sáng.
Bánh bởi trời hôm nay không phải là man na ngày xưa nuôi dân Do Thái trong sa mạc, nhưng là Mình và Máu Thánh của Đức Chúa Giê-su Ki-tô, thịt máu này đã bị nghiền nát bằng những tội lỗi của bạn và tôi, và bằng chính những xúc phạm của chúng ta, để trở thành tấm bánh tinh tuyền hằng sống dưỡng nuôi linh hồn của những kẻ tin. Chúa Giê-su đã nói: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời”, chỉ ăn một Bánh và uống một Chén mà được sự sống đời đời, thì đó là hồng ân cao cả mà Thiên Chúa đã ban cho những ai tin vào Đức Chúa Giê-su, là dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa thể hiện giữa loài người cho đến ngày tận thế.
Bạn thân mến,
Lương thực hằng sống mà Đức Chúa Giê-su đã ban cho chúng ta chính là Mình Máu Thánh của Ngài và lời của Ngài, lương thực này không như ở trong các nhà hàng kara-ôkê máy lạnh, không như ở trong các tụ điểm vui chơi, cũng không như ở trong những cuộc nhậu nhẹt tưng bừng nghiêng trời đổ đất, nhưng ở trong đền thờ của Thiên Chúa, đó là các nhà thờ, nhà nguyện trên khắp thế giới, chính nơi đây, phép lạ vĩ đại hoá bánh ra nhiều ngày xưa ấy của Đức Chúa Giê-su tái thực hiện: chỉ một tấm bánh nhưng nuôi sống những kẻ tin vào Ngài trên khắp thế gian.
Lương thực phần linh hồn đã có sẵn, đó là Lời Chúa và Mình Máu thánh của Ngài, nhưng chúng ta phải ăn uống với thái độ như thế nào để được sống đời đời ? Hy vọng và cầu mong cho bạn và tôi, và tất cả những người Ki-tô hữu, đừng ai dại dột đem của ăn cao quý này, để đổi lấy những của ăn chóng qua và đem lại sự chết cho linh hồn mình.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

Thứ Bảy, 4 tháng 8, 2018

Chúa nhật 18 thường niên




CHÚA NHẬT 18 THƯỜNG NIÊN

Tin Mừng: Ga 6, 24-35.
“Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ.”

Bạn thân mến,
Trong lịch sử thế giới có những ông vua từng tuyên bố ai theo ông sẽ không chết đói và được giàu sang phú quý, nhưng làm vua được vài năm thì bị hạ bệ, và những kẻ theo ông ta cũng lây lất tù tội; thời nay cũng có những nhà tư bản tuyên bố ai theo họ thì sẽ không thiếu thứ gì, nhưng khi kinh tế toàn cầu suy sụp thì họ sa thải công nhân và nhân viên không nương tay, và những người theo họ thất nghiệp trong đau khổ; gần nhất là bên cạnh nhà bạn và nhà tôi, đều có những người nhà giàu tuyên bố của cải mình ăn ba đời cũng không hết, nhưng “đùng” một cái họ âm thầm bán nhà trốn đi vì vỡ nợ...
Đức Chúa Giê-su tuyên bố ai đến với Ngài thì sẽ không hề phải đói, và ai tin vào Ngài thì sẽ không phải khát bao giờ. Lời tuyên bố này luôn làm cho những kẻ tôn thờ vật chất, ham muốn cuộc sống hưởng thụ chống đối và nhạo cười, bởi vì không ai dại gì tin và đi theo một con người chết trần truồng trên thập giá. Nhưng đói và khát mà Đức Chúa Giê-su nói đây chính là đói chân lý và khát khao yêu thương, bởi vì chân lý và yêu thương là căn bản của hạnh phúc và niềm vui của con người.
1.      Đói chân lý.
Ở đâu có quyền lực mà không có đạo đức, thì ở đó có bất công và đàn áp; ở đâu mà tiền bạc làm thẩm phán, thì ở đó có oan ức và chân lý bị dìm chết bởi kim tiền, do đó mà con người ta –qua mọi thời đại- rất đói chân lý và công bằng, bởi vì chỉ có chân lý mới đem lại hạnh phúc công bằng cho mọi người mà thôi.
Vì đói chân lý nên có nhiều nơi trên thế giới con người nổi loạn, và gây nhiều đau thương cho đồng bào dân tộc mình; vì đói chân lý nên con người ta -hể ai có lương tri- liền chạy đến với Thiên Chúa là Đấng Chân Thiện Mỹ Thánh để cầu xin cho chân lý mau ngự trị. Đức Chúa Giê-su là chân lý, Ngài đã đến và ngự trị trong tâm hồn những kẻ yêu thích điều ngay thẳng, Ngài đã và đang ở trong những kẻ đi tìm chân lý cách ôn hòa và nhẫn nại...
2.      Khao khát yêu thương.
Thế giới đang sống trong những chủ nghĩa: chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa hận thù, chủ nghĩa ích kỷ và chủ nghĩa hưởng thụ cá nhân.v.v... cho nên thế giới chưa từng có yêu thương và hòa bình, bởi vì con người ta ai cũng đặt ích lợi cá nhân trên yêu thương và tha thứ. Đức Chúa Giê-su đã đến, chính Ngài là tình yêu, là nhân tố của yêu thương khi Ngài tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh mình vào thập giá, và sự yêu thương tha thứ này đã trổ hoa tốt đẹp ngay trên đồi Golgotha: kẻ đâm vào cạnh sườn của Chúa Giê-su đã đấm ngực hối lỗi và nhìn nhận Ngài là Con Thiên Chúa.
Trong xã hội ngày nay con người ta đang khát, khát vật chất và tinh thần. Khát vật chất thì người ta còn có thể kham khổ chịu đựng, nhưng khi con người ta khát tinh thần là khát yêu thương, thì con người ta sẽ đối xử với anh chị em đồng loại như với thú dữ; khi con người ta không còn yêu thương thì hận thù sẽ trỗi dậy, và như thế thì con người ta chỉ biết chém giết nhau, hại nhau mà thôi.
Khao khát yêu thương là khao khát tình đồng loại, là khao khát tha thứ cho nhau và phục vụ nhau như Đức Chúa Giê-su đã làm và đã dạy chúng ta –những người Ki-tô hữu- cũng phải làm như thế.
Bạn thân mến,
Đã có nhiều lần bạn thất vọng vì tin vào lời hứa của ông chủ, của cấp trên, bởi vì họ hứa mà không thực hiện; cũng đã có nhiều lần bạn cảm thấy hụt hẩng khi đặt tin tưởng vào những người có quyền thế trong đạo cũng như ngoài đời.
Đến với Đức Chúa Giê-su thì bạn và tôi sẽ luôn an tâm và hạnh phúc vì Ngài là chân lý, là sự thật và là Đấng không hề lừa dối ai; tin vào Đức Chúa Giê-su thì bạn và tôi sẽ được no thỏa tình yêu thương, vì từng giây từng phút trong cuộc đời của chúng ta, Ngài luôn yêu thương quan tâm và hướng dẫn, để chúng ta luôn mãi là chứng nhân của Ngài ở trần gian này.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2018

Chúa nhật 17 thường niên



CHÚA NHẬT 17 THƯỜNG NIÊN

Tin Mừng: Ga 6, 1-15.
“Đức Giê-su cầm lấy bánh, rồi phân phát cho những người hiện diện, ai muốn ăn bao nhiêu tùy ý.”

Bạn thân mến,
Phép lạ bánh hóa nhiều của Đức Chúa Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay, chắc chắn bạn và tôi đã nghe nhiều lần, và chính đoạn Tin Mừng này đã củng cố đức tin cho rất nhiều tín hữu tin vào quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại, nhờ đó mà họ cảm thấy công lao khó nhọc của họ được đền đáp xứng đáng.
1.      Năm cái bánh và hai con cá.
Hơn năm ngàn người ăn mà chỉ có năm cái bánh và hai con cá, thì mỗi người e rằng chỉ ngửi mùi thơm của bánh và cá mà thôi, thì cũng không đủ mùi thơm của cá và bánh để cho họ ngửi, vì người quá đông. Nhưng Đức Chúa Giê-su vẫn cứ đãi họ một bữa tiệc no nê và còn dư thừa đến mười hai thúng đầy, đó là sự lạ chưa từng thấy của người Do Thái.
Năm cái bánh và hai con cá là phần ăn của một em bé đem theo để ăn khi nghe Đức Chúa Giê-su giảng dạy, nhưng em đã quảng đại dâng tặng cho Ngài, mà không nghĩ là Ngài sẽ làm phép lạ nuôi năm ngàn người ăn, sự quảng đại này của em bé đã làm cho Đức Chúa Giê-su cảm động và thúc đẩy Ngài mau thực hiện phép lạ của lòng thương xót vì đám đông dân chúng đã đi theo nghe Ngài giảng dạy.
Sự quảng đại chân thành sẽ luôn được đáp đền cách xứng đáng không ngờ.
2.      Hướng đến bí tích Thánh Thể.
Chỉ với năm cái bánh và hai con cá cho hơn năm ngàn người ăn, mà vẫn còn dư thừa mười hai thúng đầy. Với người Do Thái thời ấy thì đây là một kỳ công chưa từng có của Đức Chúa Giê-su đã làm cho họ, nhưng với người có đức tin như bạn và tôi ngày hôm nay, thì đó là sự thưởng công cho những ai ngày đêm khát vọng được nghe Lời Chúa, và đi xa hơn nữa, đó chính là hình bóng của phép lạ vĩ đại hơn mà Đức Chúa Giê-su đã thực hiện, đó chính là bí tích Thánh Thể mà Ngài lập ra, không phải chỉ nuôi ăn năm ngàn người mà thôi, nhưng là tất cả những ai tin vào Ngài trên kháp thế giới này.
Năm cái bánh và hai con cá là của một em bé dùng để nuôi hơn năm ngàn người ăn; bí tích Thánh Thể là chính thân mình của Đức Chúa Giê-su nuôi sống linh hồn của những kẻ tin, đây là bánh thiên thần, là bánh trường sinh, là lương thực tối cần thiết cho bạn và tôi, và cho tất cả những người Ki-tô hữu, bởi vì nếu ai từ chối đón nhận thứ lương thực thần thiêng này, thì nơi họ không có sự sống đời đời, như thánh Gioan Bốt-cô đã nói: “Những thanh thiếu niên nào không muốn đi rước lễ, thì đó là dấu hiệu chúng nó sẽ mất linh hồn.”
Bạn thân mến,
Phép lạ bánh hóa nhiều mà bạn và tôi vừa được nghe trong bài Tin Mừng hôm nay, không những làm cho bạn và tôi suy nghĩ đến những lần đi rước lễ của mình: có lúc bạn và tôi mình mang tội trọng mà đi rước Chúa, có lúc bạn và tôi vẫn còn cay cú giận hờn người anh em chị em, mà vẫn cứ đi rước lễ khi chưa nói lời xin lỗi hoặc tha thứ cho nhau...
Phép lạ bánh hóa nhiều trong bài Tin Mừng hôm nay, cũng đã làm cho bạn và tôi nghĩ đến những người giàu có và những nghèo khổ chung quanh mình, chúng ta nghĩ đến những người giàu ăn uống tiêu xài quá độ, ăn uống thừa mứa, hưởng thụ đến nổi quên mất tính đồng loại nơi mình; chúng ta cũng nghĩ đến những người nghèo khó đang lam lũ vất vả làm ăn mà không đủ, họ đang hy vọng cuộc sống ngày mai tươi đẹp hơn, do phép lạ bánh hóa nhiều của Đức Chúa Giê-su nơi những người anh em chị em đồng loại giàu có của mình.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

Thứ Sáu, 20 tháng 7, 2018

Chúa nhật 16 thường niên



CHÚA NHẬT 16 THƯỜNG NIÊN

Tin Mừng: Mc 6, 30-34.
“Họ như bầy chiên không người chăn dắt.”

Bạn thân mến,
Có nhiều lần vì muốn kiếm nhiều tiền hoặc kinh tế suy thoái, nên bạn phải làm ngày làm đêm không ngơi nghỉ, cho nên một lúc nào đó kiệt quệ thân xác, bệnh hoạn đến, thì chính bản thân bạn sẽ không làm được gì cả, tiền bạc dành dụm làm ngày làm đêm cũng không đội nón ra đi theo cơn bệnh của bạn mà thôi.
1.      Nghỉ ngơi của thế gian.
Nghỉ ngơi của bạn và tôi hoặc của những người thế gian là đóng cửa đi du lịch, đi nước ngoài, đi nhậu nhẹt với bạn bè, và có khi đắm mình trong những chơi bời hưởng thụ làm cho thân xác tâm hồn càng mệt hơn, tóm lại nghỉ ngơi của người thế gian là không làm việc gì cả, chỉ để nghỉ ngơi ăn uống và vui chơi.
Sự nghỉ ngơi đó ngày càng được những đại gia có tiền, những người trung lưu đang coi như cái mốt của thời đại, họ nghỉ ngơi không phải để tinh thần và thể xác lại sức, nhưng là để hưởng thụ: hưởng thụ mọi thứ có thể, bởi vì họ quên mất mình là một con người có trí có óc, có tinh thần và thể xác. Lối hưởng thụ ấy làm cho họ ngày càng trở nên một kẻ nô lệ cho đồng tiền, bởi vì họ làm việc để có tiền và hưởng thụ, rồi sau đó lại nổ lực lao động mà không được nghỉ ngơi đúng nghĩa như Đức Chúa Giê-su đã dạy.

2.      Nghỉ ngơi của các môn đệ Chúa.
Có cách nghỉ ngơi khác, mà người thế gian cho là ngược đời, đó là sự nghỉ ngơi của người môn đệ Đức Chúa Giê-su, nói chung là những người Ki-tô hữu, nói riêng là những người đã dâng mình làm tôi tớ Chúa trong thiên chức linh mục hoặc tu sĩ nam nữ.
Nghỉ ngơi của các môn đệ Chúa là để cho tâm hồn ở trạng thái lắng động, để tâm hồn yên tĩnh dễ dàng nghe suy tư, kiểm thảo và thấy mình hơn sau những tháng ngày mệt nhọc vì công việc tông đồ, mục vụ. Đức Chúa Giê-su không nhìn thấy dân chúng nhiệt tình theo mình mà “ham” để rồi quên cả chính bản thân mình, nhưng Ngài rất biết rằng muốn công việc lâu dài thì cần phải có thời gian ngơi nghỉ, và ngơi nghỉ trong Chúa là điều rất cần thiết cho người làm công tác tông đồ mục vụ.
Nghỉ ngơi của người môn đệ Chúa không như người thế gian, nhưng vượt qua tất cả những gì mà người thể gian đã làm khi nghỉ ngơi, đó là tìm nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi, thanh vắng chứ không nơi phố xá đông người, nghỉ ngơi chứ không phải nhậu nhẹt đình đám, đó là một thực tế mà Đức Chúa Giê-su đã nói với các tông đồ: anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.
Bạn thân mến,
Nghỉ ngơi là điều phải có trong cuộc sống của con người, nhưng cách nghỉ ngơi của người môn đệ Chúa thì có khác với người thế gian.
-         Người môn đệ Chúa nghỉ ngơi là để kiểm thảo lại cuộc sống của mình- người thế gian nghỉ ngơi là tụm năm tụm ba để chỉ trích người khác.
-         Người môn đệ Chúa nghỉ ngơi là để cầu nguyện bồi bổ sức cho tâm hồn và thân xác – người thế gian nghỉ ngơi là để hưởng thụ ăn uống chơi bời, có hại cho thân xác và tâm hồn.
-         Người môn đệ Chúa nghỉ ngơi là tìm nơi thanh vắng để dễ dàng nhìn thấy chính bản thân mình – người thế gian nghỉ ngơi là tìm nơi ồn ào náo nhiệt, không phải để thấy mình, nhưng để kết giao bạn bè và cùng với họ ăn uống chén tạc chén thù.
Nghỉ ngơi là điều cẩn thiết, nhưng luôn nhớ rằng mình là môn đệ của Chúa Giê-su, tức là linh mục, tu sĩ nam nữ và là người Ki-tô hữu.

Xin Chúa chúc lành cho chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2018

Chúa nhật 15 thường niên



CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN

Tin Mừng: Mc 6, 7-13.
“Đức Giê-su bắt đầu sai các Tông Đồ đi rao giảng.”

Bạn thân mến,
Đức Chúa Giê-su sai phái các tông đồ đi truyền giáo không như công ty hay đơn vị sai nhân viên đi công tác, Ngài chỉ thị cho các ông không được mang theo gì cả, ngoài cây gậy; không được mang theo lương thực, bao bị, tiền bạc, được đi dép nhưng không được mặc hai áo. Chỉ thị của Đức Chúa Giê-su –đối với cách suy nghĩ của người đời- thì thật là ngược đời, nhưng đối với Ngài thì không ngược đời chút nào cả, bởi vì người truyền giáo khác với nhân viên một công ty, người môn đệ của Chúa thì khác với công nhân của một nhà máy xí nghiệp.
1.      Chỉ mang cây gậy.
Nếu bạn hoặc tôi đi đường núi đường rừng hay là đi ban đêm mà có cây gậy trong tay thì rất yên tâm, bởi vì nó vừa giúp cho bạn và tôi khỏi trượt chân té nhào, và có thể đánh đuổi thú rừng.
Cây gậy chính là đức tin của bạn và của tôi, giữa một xã hội mà cuộc sống chỉ là hưởng thụ và lớp trẻ thì sống không có phương hướng, con người ta thì giải quyết vấn để theo kiểu thù hận hoặc yêu thương, theo kiểu quyền lực và thế lực tiền tài, thì đức tin chính là cây gậy làm cho chúng ta vững tiến trong chân lý và sự thật, chính đức tin giúp bạn và tôi nhận ra vấn đề của mình và của người khác, chính đức tin làm cho chúng ta giải quyết vấn đề cách rốt ráo hơn khi gặp những chống đối, những hăm dọa và những cám dỗ, bởi vì trước mặt Chúa, mọi tiền tài, danh vọng hay quyền lực chỉ là cát bụi mà thôi...
Chỉ có đức tin mới làm cho chúng ta trở nên người loan báo Tin Mừng cách chân chính và hữu hiệu.
2.      Không được mặc hai áo.
Áo mà Đức Chúa Giê-su muốn các tông đồ và các môn đệ của Ngài phải mặc, duy nhất một cái, đó là sự thật, bởi vì người đi loan báo Tin Mừng không thể vừa loan báo sự thật vừa làm điều dối trá, không thể vừa từ bỏ gia tài của cha mẹ, nhưng lại vơ vét lại gấp ba gấp bốn những gì của người khác dâng cúng cho mình hoặc cho Giáo Hội.
Mặc một áo thôi, đó là áo sự thật, bởi vì đi loan báo Tin Mừng là đi loan báo sự thật: sự thật về Đức Chúa Giê-su chịu đòn vọt, bị án tử và bị đóng đinh trên thập giá; sự thật về Đức Chúa Giê-su đã chết và đã sống lại và lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa Cha. Chỉ có loan báo sự thật và làm chứng cho sự thật thì người khác mới tin vào lời loan báo của bạn và tôi, và của tất cả những ai là người Ki-tô hữu. Nếu chúng ta khoác lên mình chiếc áo sự thật, nhưng lại choàng bên ngoài chiếc áo dối trá bằng những lời phỉnh gạt, hoặc bằng những việc làm trái ngược với lời dạy của Chúa Giê-su và của Giáo Hội, thì ai biết được Nước Trời đã đến rồi chứ...!
Bạn thân mến,
Tôi là linh mục của Đức Chúa Giê-su, bạn là một tu sĩ nam nữ, hay bạn là một người Ki-tô hữu, chúng ta đều được Chúa sai đi loan báo Tin Mừng cho mọi người tùy theo bổn phận và trách nhiệm của mình. Tôi cử hành thánh lễ và các bí tích cách sốt sắng và cung kính, tôi giảng dạy Lời Chúa bằng lời nói và bằng hành động phù hợp với Lời Chúa và lời giảng của tôi, đó là tôi đã trung thành và tích cực loan báo Tin Mừng; bạn loan báo Tin Mừng theo cách của bạn –người Ki-tô hữu- là làm chứng nhân cho Chúa giữa đời ngay trong công xưởng, nơi chợ búa, trong trường học bằng đức tin và bằng sự thật, bởi vì chỉ có sống đức tin và thực hành sự thật thì con người thời nay mới tin vào Chúa Giê-su.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2018

Chúa nhật 14 thường niên



CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN
Tin Mừng: Mc 6, 1-16.
“Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình.”

Bạn thân mến,
Tôi tin rằng, đã có ít là một lần bạn coi thường những người trong làng xóm hoặc trong giáo xứ của bạn, vì trước đây họ không phải là những người nổi bật, gia đình họ nghèo, cha mẹ họ làm thuê làm mướn, nhưng bây giờ họ đã trở thành những người trí thức, có địa vị trong xã hội làm linh mục, làm dì phước hoặc làm bác sĩ, kỹ sư.v.v...bạn coi thường họ vì trước đây họ thua kém bạn rất xa về mọi mặt, nhưng bây giờ thì mọi sự đã đổi thay...
Đức Chúa Giê-su cũng đã bị những người đồng hương khinh dễ vì Ngài là con của bác thợ mộc, tức là thuộc hạng người nghèo khó, mặc dù họ đã chứng kiến những việc làm của Ngài khi cho người chết sống lại, người câm nói được, người què biết đi và chữa lành nhiều bệnh tật cho mọi người.
Con người ta thường lấy cái hôm qua làm tiêu chuẩn để đánh giá ngày hôm nay, cái hôm qua là quá khứ của lạc hậu, của nghèo khó, nhưng cái hôm nay là của văn minh khoa học và phồn vinh; cái hôm qua là tội lỗi, khuyết điểm, bất toàn, nhưng hôm nay là thánh thiện, là tốt và là mẫu mực; cho nên sẽ trở thành lạc hậu và đáng chê trách, khi chúng ta vẫn cứ coi thường anh chị em như những ngày hôm qua hôm kia, đó chính là thành kiến làm chết tương lai và linh hồn của tha nhân, của anh chị em mình.
Với con người thì không có thể, nhưng với Thiên Chúa thì không có việc gì mà không thể làm được, chuyện người anh em chị em ngày hôm qua là người xấu, nhưng nhờ ơn Chúa hôm nay họ đã trở thành người tốt; chuyện gia đình của anh em chị em ngày hôm qua thì nghèo khó, nhưng nhờ ơn Chúa và nhờ sự làm ăn cần cù hôm nay họ khá giả, đó là những điều mà chúng ta nên vui mừng và cảm tạ Thiên Chúa với họ.
Bạn thân mến,
Đức Chúa Giê-su chỉ là con bác thợ mộc và mẹ của Ngài cũng chỉ là những phụ nữ tầm thường mà thôi, nhưng chính bản thân Ngài thì không tầm thường chút nào cả khi Ngài thi ân giáng phúc cho mọi người, và làm những dấu lạ phi thường mà ai cũng công nhận, chỉ có các đồng hương của Ngài vì thành kiến, vì kiêu ngạo mới chê bai mà thôi.
Kiêu ngạo làm cho con người ta có thành kiến, dù việc làm của người anh chị em là tốt lành ai cũng biết, phải chăng đó là “tội phạm đến Chúa Thánh Thần”, bởi vì tội phạm đến Chúa Thánh Thần chính là chối bỏ sự thật vậy.


Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

Thứ Bảy, 30 tháng 6, 2018

Lễ thánh Phê-rô và thánh Phao-lô tông đồ



CHÚA NHẬT

LỄ THÁNH PHÊ-RÔ VÀ PHAO-LÔ TÔNG ĐỒ

Tin mừng : Mt 16, 13-19
“Anh là Phê-rô, Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời”.
Bạn thân mến,
Hôm nay toàn thể Giáo Hội hân hoan mừng lễ kính hai thánh Phê-rô và Phao-lô Tông Đồ, hai vị thánh hai khuôn mặt, hai đời sống và là hai cột trụ của Giáo Hội Công Giáo, trong tâm tình ấy tôi xin chia sẻ với anh chị em hai nét sau đây của hai vị thánh lớn của Giáo Hội.
1. Nhiệt tình với sứ mệnh.
Thánh Phê-rô và thánh Phao-lô đều có tâm hồn nhiệt tình với sứ mạng mà Đức Chúa Giê-su đã giao phó, sự nhiệt tình này Đức Chúa Giê-su đã nhìn thấy khi chọn các ngài làm tông đồ, và giao phó trọng trách gánh vác Giáo Hội của Ngài cho các ông.
Nhiệt tình chất phác bộc trực cương nghị của thánh Phê-rô, đã được Đức Chúa Giê-su khám phá ra khi ông đang đánh cá với anh mình là An-rê, Ngài nói: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” và hai ông đã lập tức bỏ chài lưới mà theo Ngài.
Nhiệt tình hăng hái của thánh Phao-lô đã bộc lộ rất rõ khi ngài giữ áo cho người ta ném đá tử hình thánh Stê-pha-nô , cũng như đang hăng hái bách hại Giáo Hội tiên khởi của Đức Chúa Giê-su , sự nhiệt tình này không phải vì danh dự cá nhân, nhưng nhiệt tình vì lòng yêu mến Đức Chúa Ya-Vê của người Do Thái.
Tâm hồn nhiệt tình là điều cần thiết trước tiên để được chọn, không ai chọn một tinh binh không có dũng khí chiến đấu để làm tiên phong, cũng không ai chọn một người dù tài cao học rộng nhưng không nhiệt tình với bổn phận để giao trọng trách, nhưng người ta đã chọn người có tâm hồn nhiệt tình hăng say với công việc để giao phó sứ mệnh quan trọng…
Nhiệt tình của chúng ta có thừa, nhưng sự nhiệt tình này chúng ta đã dùng không đúng chỗ: chúng ta nhiệt tình với bạn bè mà không nhiệt tình với Thiên Chúa; chúng ta nhiệt tình với các hợp đồng béo bở nhưng lại lạnh băng với công tác từ thiện; chúng ta nhiệt tình với những công trình tiếng tăm để đời, nhưng lại nguội lạnh với công việc mà Đức Chúa Giê-su Ki-tô đã trao cho chúng ta trong ngày lãnh nhận bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, là loan báo và làm chứng nhân cho Đức Chúa Giê-su Ki-tô trong cuộc sống hằng ngày của mình.
2. Yêu mến Đức Chúa Giê-su hết lòng.
Đức Chúa Giê-su đã ba lần hỏi thánh Phê-rô có yêu mến Ngài không, cả ba lần thánh Phê-rô đều cương quyết trả lời: “Thưa Thầy, có, Thầy biết con yêu mến Thầy”.
Một thánh Phao-lô đã tuyên bố: “Thật vậy, chúng tôi có điên, thì cũng là vì Thiên Chúa” và chính cá nhân ngài cũng đã không ngại ngùng nói: “Tình yêu Đức Ki-tô thôi thúc chúng tôi.”
Yêu mến Đức Chúa Giê-su làm gia tăng sự nhiệt thành trong tâm hồn của các ngài, cho nên dù chịu biết bao khổ cực, nhọc nhằn, dù chịu bao nhiêu hy sinh gian nan thì các ngài vẫn cứ yêu mến Đức Chúa Giê-su, và vì yêu mến Đấng đã chọn mình làm khí cụ loan báo tin mừng Nước Trời, nên các ngài vui lòng chia sẻ nỗi khổ đau với Đức Chúa Giê-su. Tình yêu đã làm nên những điều kỳ diệu nơi những người đang yêu, và điều kỳ diệu trước tiên xảy ra chính là hai thánh Phê-rô và Phao-lô đã cảm nghiệm Đấng mình yêu đang rất gần gũi bên mình, và do đó mà hai ngài đã không quản ngại hy sinh gian khổ để làm chứng cho tình yêu…
Yêu mến Đức Chúa Giê-su là năng lượng thúc đẩy chúng ta đi vào không gian vô tận của tình yêu Thiên Chúa, để sự nhiệt tình của chúng ta trở nên năng lực thúc đầy người khác biết yêu mến và sống tinh thần yêu mến của Chúa Giê-su…
Bạn than mến,
Hai thánh Phê-rô và Phao-lô tông đồ chính là hai ngọn đèn tỏa sáng của Giáo Hội, chính trên nền tảng Phê-rô này, mà Phao-lô nổi bật với những giáo huấn về Đức Chúa Giê-su và đã làm cho ngài trở thành trụ cột của Giáo Hội như thánh Phê-rô.
Mừng lễ kính trọng thể hai thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô hôm nay, chúng ta cầu xin hai ngài ban cho chúng ta có tâm hồn nhiệt tình với tâm tình yêu mến Đức Chúa Giê-su, bởi vì chỉ có sự nhiệt tình mới làm cho sứ mệnh tông đồ của chúng ta được tiến triển, và Lời Chúa được mau chạy tiến bước đến với mọi tâm hồn.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
-------------
http://www.vietcatholicnews.net 
http://www.vietcatholic.net/nhantai

http://nhantai.info

Thứ Ba, 26 tháng 6, 2018

Chúa nhật 12 thường niên



CHÚA NHẬT 12 THƯỜNG NIÊN

Tin Mừng: Mc 4, 35-41.
“Người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh ?”

Bạn thân mến,
Đức tin không việc làm là đức tin chết, đó là lời dạy của thánh Gia-cô-bê tông đồ, Chúa Giê-su đã bày tỏ quyền năng của Ngài trên sóng biển và cuồng phong, để củng cố đức tin cho các môn đệ của mình, và để dạy cho các ông một bài học về đức tin: Chúa Giê-su chính là niềm tin của các ông.
Con người thời nay muốn dùng khoa học để phục vụ cuộc sống con người tốt hơn, đó chính là ý muốn của Thiên Chúa, khi Ngài ủy quyền cai quản vũ trụ mà Ngài dựng nên cho nguyên tổ Adong và Eva của chúng ta, nhưng con người không thể nói rằng mình thay Thiên Chúa để làm tất cả mọi sự, bởi vì con người dù thông minh tài trí đến đâu, cũng thì cũng chỉ là loại tạo vật hèn kém trước mặt Thiên Chúa mà thôi. Do đó, đức tin chính là cốt lõi để con người khôn ngoan thì càng khôn ngoan hơn, thông minh thì càng thông minh hơn khi họ tin tưởng và xác tín rằng: mọi sự đều là bởi Thiên Chúa mà có, không có Ngài thì con người không làm được gì cả.

Đức tin không phải do mình mà có, nhưng bởi tình thương yêu của Thiên Chúa ban cho, chúng ta chỉ có một tâm hồn tội lỗi, đã được Chúa Giê-su rửa sạch bằng Máu Thánh của Ngài, và bằng đức tin của chính mình vào sự chết và sống lại của Ngài mà thôi, do đó, mà chúng ta cần phải hết lòng cầu xin Chúa gia tăng đức tin cho mình nhiều hơn nữa.
Tôi tin rằng đã có nhiều lần bạn đã vui sướng hoan hô Chúa khi những ngày lễ lớn trời nắng đẹp có gió mát hiu hiu thổi, và bạn vui sướng khoe với mọi người là cộng đòan tin Chúa, cầu nguyện với Chúa và Chúa nhận lời mọi người kêu xin; tôi cũng tin rằng đã có lần bạn lẩm bẩm trách móc Thiên Chúa vì trời mưa quá lớn làm ngập lụt đường phố làm xe máy của bạn ngập nước, những lúc như thế ấy bạn đều đánh mất niềm tin của mình vào sự quan phòng của Thiên Chúa.
Bạn thân mến,
Các tông đồ đã thấy những việc kỳ diệu mà Chúa Giê-su đã làm, nên đã tin vào Ngài và đó thật là diễm phúc; chúng ta không thấy Chúa Giê-su và cũng không thất những phép lạ của Ngài làm, nhưng chúng ta vẫn tin vào Ngài là Thiên Chúa thật và là người thật, đức tin này làm cho chúng ta càng có phúc hơn, vì Chúa Giê-su đã nói: Phúc cho những ai không thấy mà tin[1]. (Ga 20, 29).
Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 



[1] Ga 20, 29.

Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2018

Lễ sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả



CHÚA NHẬT
LỄ SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ

Lời Chúa: Lc 1, 57-66. 80
“Tên cháu là Gio-an”

Anh chị em thân mến,
Hôm nay Giáo Hội long trọng mừng lễ sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả, một con người đặc biệt mà Đức Chúa Giê-su đã nói: “Trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả”[1]. Cao trọng, không phải vì ông Gioan làm nhiều điều vĩ đại, nhưng là vì ông là người được vinh dự làm kẻ dọn đường cho Đấng Mes-si-a đến. Trong tâm tình ấy, tôi xin chia sẻ với anh chị em hai điểm nổi bật của thánh Gioan Tẩy Giả:

1.      Cương trực và công chính.
Trước bạo quyền của vua Hê-rốt, thánh Gioan Tẩy Giả đã không sợ, và dám nói lên sự thật với vua Hê- rô-đê: “Ngài không được phép lấy vợ của anh ngài” (Mc 6, 18), và cái giá phải trả chính là bị nhà vua chém đầu.
Thánh Gioan Tẩy Giả không vì nhu nhược an phận để được mọi người tâng bốc khen ngợi, nhưng chính ngài đã nói lên sự thật với vua Hê-rô-đê, vì việc của ông làm là trái với luân thường đạo lý; ngài cũng không vì bạo lực mà khuất phục, nhưng lời dạy của ngài làm cho nhà vua vừa kinh sợ vừa thán phục.
Trước bạo quyền trần thế, thánh Gioan Tẩy Giả thà chấp nhận cái chết hơn là dửng dưng để cho sự ác thống trị, ngài thà như cây cao vươn thẳng đứng lên trời cao và bị gió đánh gãy, hơn là làm một một con người chỉ biết lòn cúi để được an phận.

2.      Khiêm tốn tự hạ.
Khi nhìn thấy Đức Chúa Giê-su, thì thánh Gioan Tẩy Giả đã không ngần ngại giới thiệu cho hai môn đệ của mình: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”, lời giới thiệu này nói lên một tấm lòng khiêm tốn, ngài không vì sĩ diện để khoe khoang mình và hạ bệ người khác; ngài cũng không vì danh vọng hão huyền mà không nhìn thấy Đấng cứu độ đang đến là Đức Chúa Giê-su, cho nên ngài thà đành “mất” hai môn đệ của mình để họ đi làm môn đệ của Đấng là ánh sáng trần gian, hơn là đi theo ngài chỉ là ánh sáng của con đom đóm trong đêm mà thôi.
Khiêm tốn và tự hạ là đặc tính của người thuộc về Thiên Chúa, và nhìn nhận giá trị đích thực của người khác mà không câu nệ tị hiềm.
Thánh Gioan Tẩy Giả đã nói với dân chúng về Đức Chúa Giê-su rằng: “Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi”, câu nói đầy khiêm tốn tự hạ này đã đưa ngài lên tận trời cao với lời xác nhận của chính miệng Đấng Cứu Thế: “Trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả” (Mt 11, 11). Khiêm tốn là sức mạnh và là vũ khí của người Ki-tô hữu để chiến thắng ma quỷ và thế gian kiêu ngạo, sự khiêm tốn đã làm cho thánh Gioan Tẩy Giả trở nên mạnh mẻ không sợ hãi trước bạo quyền của vua Hê-rô-đê; sự khiêm tốn cũng đã làm cho ngài trở nên danh giá trước mặt Thiên Chúa và loài người.
Anh chị em thân mến,
Cuộc đời của thánh Gioan Tẩy Giả như cây cổ thụ trước phong ba bão táp đầy quyền lực của vua  Hê-rô-đê, thà bị gãy chứ không chịu khuất phục, thà bị chém đầu vì công bằng chính nghĩa chứ không đầu hàng trước bạo lực bất công.
Chúng ta cầu xin Chúa ban cho chúng ta có tinh thần của thánh Gioan Tẩy Giả biết can đảm trước mọi thử thách, biết khiêm nhường định hướng cho cuộc sống với ân sủng của Chúa ban cho với tất cả những gì mình có mà không kêu ca than vãn, và nhất là biết luôn trở nên chứng nhân cho Tin Mừng trong cuộc sống hôm nay.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 


[1] Mt 11, 11a.

Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2018

Chúa nhật 11 thường niên




CHÚA NHẬT 11 THƯỜNG NIÊN

Tin mừng : Mc 4, 26-34.
“Hạt cải là loại nhỏ nhất, nhưng đã trở thành cây lớn hơn mọi thứ rau cỏ.”

Bạn thân mến,
Trong bài Tin Mừng hôm nay Đức Chúa Giê-su đưa ra một vấn nạn để cho chúng ta suy nghĩ: “Chúng ta ví Nước Thiên Chúa với cái gì đây, lấy ví dụ nào mà hình dung được?” Rồi chính Ngài đã giải thích cho chúng ta biết Nước Thiên Chúa giống như hạt cải. Trong tâm tình ấy tôi xin chia sẻ với anh chị em hai điểm thực tế sau đây.

1.      Thực hành đức ái.
Nếu trong tâm hồn chúng ta có tình yêu Thiên Chúa, thì đồng thời chúng ta cũng biết đem hạt giống ấy gieo vào tâm hồn người khác bằng cách đi làm việc thiện, bởi vì khi làm việc thiện là chúng ta gieo hạt giống Lời Chúa vào tâm hồn của tha nhân, khi thấy chúng ta làm việc thiện giúp đỡ người khác không tính toán, không đòi báo đáp, dù cho chúng ta không để ý theo dõi tình trạng kết quả, thì hạt giống ấy (việc thiện) vẫn cứ âm thầm nảy mầm và đến lúc nào đó, với ơn Chúa giúp thì họ sẽ trở thành người Ki-tô hữu, người con của Chúa như chúng ta.
Chúng ta nhận ơn của của Chúa cách nhưng không thì nên cho đi cách nhưng không, có nghĩa là những việc thiện mà chúng ta làm cần phải sáng rực tình yêu vô vị lợi, vì Thiên Chúa mà thực hành đức ái, có như thế tâm hồn những người mà chúng ta giúp đỡ sẽ đâm chồi nẩy lộc tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa.

2.      Nước Trời ở trong chúng ta.
Nước Trời được gieo vào trong tâm hồn chúng ta ban đầu nhỏ như hạt cải, nó chính là đức tin, đức tin được lớn dần qua hoàn cảnh của cuộc sống, nhất là trong những hoàn cảnh ngặt nghèo, nguy hiểm, bởi vì đức tin được qua thử thách là đức tin trưởng thành và vững mạnh, có như thế mới trở thành chứng nhân cho Nước Trời ngay tại trần gian này.
Đức tin của chúng ta không phải tự nhiên mà có, nhưng được Thiên Chúa – qua Giáo Hội- gieo vào trong tâm hồn chúng ta, đức tin được nuôi dưỡng bằng Thánh Thể và được củng cố bằng Lời Chúa thì nó sẽ ngày càng lớn mạnh, có thể bảo vệ linh hồn mình khỏi những cám dỗ của ma quỷ và thế gian, có thể bảo vệ Giáo Hội qua những cơn bách hại của những mưu mô ma quỷ.

Bạn thân mến,
Đức Chúa Giê-su ví Nước Trời giống như hạt cải, nghĩa là ảnh hưởng và sức mạnh của nó có thể làm nơi trú ẩn cho chim trời. Đức tin của chúng ta cũng thế, cần phải lớn mạnh để có thể trở thành những chứng nhân cho Nước Trời ngay trong cuộc sống của mình.
Nước Trời là một thực tại có thật bắt đầu trong tâm hồn của mỗi người Ki-tô hữu và kết thúc viên mãn mai sau trên thiên đàng, đó chính là những việc lành thánh thiện mà chúng ta làm với ánh sáng đức tin soi dẫn, bởi vì Nước Trời không phải chỉ là thực tại mà thôi, nhưng còn là sống động nữa trong cuộc sống nơi mỗi người Ki-tô hữu chúng ta.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2018

Chúa nhật 10 thường niên




Tin mừng: Mc 3, 20-35.
“Sa tan đã tận số.”

Bạn thân mến,
“Đoàn kết là sức mạnh mà chia rẻ thì chết” đó là câu nói mà mỗi người trong chúng ta đều biết là ám chỉ đến một cộng đoàn, một nhóm nhỏ hay một cộng đống khi họ tự cắn xé nhau, tự chia rẻ nhau. Ngay cả sa tan cũng sẽ bị tan rã nếu chúng chia rẻ nhau.

1.      Không chia rẻ khi có lợi cho nhau.
        Trong bài Tin Mừng hôm nay chúng ta vừa nghe, Đức Chúa Giê-su đã chỉ ra rõ ràng cho chúng ta biết ngay cả ma quỷ cũng biết đoàn kết khi đi cám dỗ con người, thì chắc chắn rằng nó sẽ không chia rẻ nhau; con người ta cũng vậy, dù là thành phần xã hội đen hay thành phần bất hảo thì vẫn cứ sát cánh đoàn kết bên nhau khi lợi lộc còn, nhưng khi lợi lộc không còn nữa, thì họ sẽ trở lại cắn xé nhau và chia rẻ nhau.

2.      Đức tin làm cho người Ki-tô hữu đoàn kết với nhau.
Bởi vì chỉ có một Thiên Chúa, một đức tin và một phép Rửa cho nên người Ki-tô hữu đã trở nên một đại gia đình trong Chúa Ki-tô. Đức tin làm cho người Ki-tô hữu trở nên kiên cường trong việc chống trả lại với chước cám dỗ tiền tài danh vọng của ma quỷ; đức mến làm cho thế gian nhận biết người Ki-tô hữu là những người con của Cha trên trời khi họ phục vụ tha nhân, và đức cậy làm cho họ dù trong hoàn cảnh nào cũng có sự trông cậy vào tình thương và ân sủng của Thiên Chúa ban cho họ.

3.      Chia rẻ là bản chất của ma quỷ.
Ma quỷ sẽ không chia rẻ nhau khi vẫn còn mối lợi cho nó, kẻ ma giáo cũng sẽ rất được kết để được chia lợi, nhưng khi lợi lộc đã hết thì chính ma quỷ trong hỏa ngục và những người ma giáo ở thế gian sẽ trở mặt lại để cắn xé nhau, bởi vì ma quỷ thì không có yêu thương và nơi người ma giáo thì không có tình người mà chỉ có lợi lộc chóng qua, cho nên như lời thánh Phao-lô tông đồ đã nói: đạo lý của họ là cái bụng, và chỉ thỏa mãn cái bụng nên họ sẽ không còn chỗ cho con tim và tình người...

Bạn thân mến,
Đức Chúa Giê-su đã mở ra cho chúng ta một con đường để chúng ta trở thành anh chị em với nhau, và trở thành người thân thiết của Ngài đó là yêu mến và thực hành lời của Ngài trong cuộc sống, bởi vì khi chúng ta yêu mến và thực hành lời Ngài là chúng ta đã trở thành cha mẹ, anh em, chị em và là bạn hữu của Chúa, lúc đó thì sẽ không có sự chia rẻ nhau vì tình vì tiền hay vì danh vọng, nhưng là vì sự yêu thương và hợp nhất trong tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi, họ trở nên chi thể của thân thế mầu nhiệm của Đức Chúa Giê-su.
Xin Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2018

Lễ Mình và Máu Thánh Đức Chúa Giê-su



LỄ MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA GIÊ-SU
Tin Mừng: Mc 14, 12-16; 22-26.
“Đây là Mình Thầy, đây là Máu Thầy.”
Bạn thân mến,
Hôm nay Giáo Hội long trọng cử hành thánh lễ Mính và Máu Thánh của Đức Chúa Giê-su, là bí tích Yêu Thương mà Đức Chúa Giê-su đã để lại cho Giáo Hội ở trần gian, để làm lương thực nuôi sống Giáo Hội và là dấu chỉ hiệp nhất yêu thương của Giáo Hội Chúa ở trần gian này. Trong niềm xác tín bí tích Thánh Thể chính là Mình và Máu Thánh Đức Chúa Giê-su, tôi xin chia sẻ với bạn hai điểm này:
1. Bí tích Thánh Thể là sáng kiến của Thiên Chúa.
Người cha nào cũng muốn để lại cho con mình một cái gì đó trước khi ông ta qua đời, chúng ta gọi là di chúc, và thông thường thì di chúc này thường để gia tài của ông lại cho con cái, chứ cha mẹ không để lại gì khác cho con cái họ ngoài gia tài vật chất. Người đời thường làm như thế.
Nhưng Đức Chúa Giê-su không để gia tài vật chất lại cho các tông đồ và Giáo Hội của Ngài, dù rằng Ngài có tất cả vũ trụ này, bởi vì vật chất không đem lại hạnh phúc và yêu thương thật; Đức Chúa Giê-su cũng không để lại tài năng biến hóa rất cần thiết cho các tông đồ và Giáo Hội, bởi vì tài năng biến hóa không làm cho Giáo Hội đoàn kết và khiêm tốn; Đức Chúa Giê-su cũng không để lại cho các tông đồ tài ăn nói lợi khẩu để giảng dạy, bởi vì tài lợi khẩu không làm cho các thành viện trong Giáo Hội biết vâng phục lẫn nhau...
Nhưng, Đức Chúa Giê-su đã để lại cho các tông đồ và Giáo Hội của Ngài chính thân thể trọn vẹn của mình, đó chính là Mình và Máu Thánh của Ngài, để làm lương thực nuôi sống Giáo Hội và các linh hồn các kẻ tin. Bởi vì bí tích Thánh Thể làm cho các tông đồ và Giáo Hội trở nên một, làm cho Giáo Hội trở thành một khối yêu thương hiệp nhất cho đến ngày Ngài lại đến trong vinh quang.
2. Từ bí tích Thánh Thể , phát sinh ra hoa quả của Chúa Thánh Thần .
Thánh Phao-lô tông đồ nhấn mạnh đến việc sẽ mắc tội với Mình Thánh Chúa nếu khi chúng ta lên rước lễ mà đang còn trong tình trạng tội lỗi, do đó mà ngài khuyên bảo chúng ta hãy xét mình trước khi đi rước lễ (1 Cr 11, 28-32). Nhưng những ai đi rước Chúa với tâm hồn trong trắng không phạm tội, thì sẽ được nhiều ơn ích bởi lương thực thần thiêng này ban cho.
Thật vậy, bất kỳ ai thường đến bàn tiệc thánh thì người ấy sẽ được Đức Chúa Thánh Thần ban đầy đủ hoa quả thiêng liêng của Ngài, để họ sống và làm chứng cho đến khi Chúa lại đến (1 Cr 11, 26). Bởi vì không một thân xác nào được bồi bổ bởi những chất sinh tố tốt lành mà trở nên gầy mòn, bệnh tật, cũng thế, linh hồn nào được bồi bổ Mình và Máu Thánh của Đức Chúa Giê-su, thì cũng sẽ được kiên cường mạnh khỏe trong đức tin, hạnh phúc trong Đức Ái và hy vọng nơi niềm cậy trông, và tràn ngập hoa quả của Đức Chúa Thánh Thần là bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ (Gl 5, 22-23).
Bạn thân mến,
Ngày lễ Mình và Máu Thánh của Đức Chúa Giê-su chính là ngày mà bạn và tôi cần phải hồi tâm suy niệm đến tình yêu của Ngài dành cho Giáo Hội mà Ngài đã lập, dành cho bạn và tôi và những ai tin vào Ngài.
Những suy nghĩ ấy chính là:
a/ Tôi có coi thường Mình Thánh Chúa khi không đi rước lễ ?
b/ Tôi có cầu nguyện và cảm tạ Chúa sau khi rước lễ không ?
c/ Tôi có siêng năng viếng Mình Thánh Chúa không ?
Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch của yêu thương, của đoàn kết hiệp nhất trong cộng đoàn, do đó mà chúng ta có thể xác tín rằng: ai đi rước Chúa mà có cuộc sống gây chia rẻ cộng đoàn, phá hoại sự hiệp nhất và luôn chỉ trích soi mói anh chị em, là người đang coi thường bí tích Thánh Thể và là phản ki-tô, bởi vì nơi họ không có Đức Ái của Đức Chúa Giê-su Ki-tô.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
----------
http://www.vietcatholicnews.net 
http://www.vietcatholic.net/nhantai 

Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2018

Niềm vui truyền giáo...

Giảng tĩnh tâm 3 ngày (08/05/2018 – 10/05/2018)
cho các Tiểu Đệ
hội dòng Tiểu Đệ Thánh Gioan Tẩy Giả
chuẩn bị tiến chức linh mục.




Chủ đề

NIỀM VUI TRUYỀN GIÁO
DƯỚI GIÁO HUẤN CỦA CHA VINCENT LEBBE
VÀ ĐỐI CHIẾU VỚI
TÔNG HUẤN NIỀM VUI TIN MỪNG CỦA
ĐỨC GIÁO HOÀNG PHAN-XI-CÔ


Ngày thứ nhất:

TINH THẦN TU ĐỨC CỦA CHA VINCENT LEBBE

Cha Vincent Lebbe (19/08/1887 – 24/06/1940) nhà truyền giáo người Bỉ, là tu sĩ của dòng Vincent de Paul (dòng Vinh Sơn) đã qua truyền giáo tại Trung Hoa và để phục vụ việc truyền giáo cho được tốt hơn, nên ngày 16 tháng 12 năm 1928 cha Vincent Lebbe đã lập ra dòng “khổ tu Trung Hoa” với tên gọi “dòng Tiểu Đệ Thánh Gioan Tẩy Giả” với 15 thầy đầu tiên vào nhà tập.
Tinh thần tu đức này được thực hành nhiều trong cuộc sống của đời truyền giáo tại Trung Hoa, với nhiều kinh nghiệm phục vụ tại các vùng truyền giáo mà cha Vincent Lebbe đã có một tinh thần tu đức rất sống động và thích ứng với thời đại, ngài đã đem kinh nghiệm rất hiệu quả này vào trong luật dòng của hội dòng Tiểu Đệ Thánh Gioan Tẩy Giả như sau: “Để đạt tới tôn chỉ của Hội Dòng, tất cả các thành viên phải có tinh thần “thích ứng thời đại”, “hội nhập văn hóa địa phương” và “dũng cảm kiên nghị bền bỉ chịu đựng gian khổ”.[1]
Từ trong kinh nghiệm truyền giáo này, cha Vincent Lebbe đã chọn cho mình và cho hai hội dòng mà ngài đã sáng lập, đó là hội dòng Tiểu Đệ Thánh Gioan Tẩy Giả và hội dòng Tiểu Muội Thánh Tê-rê-xa một con đuong linh đạo tu đức, rất dễ nhớ và rất dễ thực hành trong đời sống tu trì và trong cuộc đời truyền giáo, con đường linh đạo tu đức đó là: “Toàn hy sinh, Thật yêu người và Luôn vui vẻ”.
Cha Vincent Lebbe là nhà truyền giáo của mọi thời đại, vì tinh thần tu đức của ngài không những phù hợp với con người của mọi thời đại, mà chính cuộc sống của ngài đã chứng minh điều đó khi những đau khổ mà ngài phải chịu không phải đến từ những tác nhân bên ngoài, mà trước hết là đến từ trong hội dòng Vinh Sơn bởi bề trên và các anh em tu sĩ trong dòng của ngài, qua việc ngài quá tích cực truyền giáo và quá yêu thương người Trung Quốc, tất cả cho người Trung Quốc, nên bề trên giám tỉnh dòng Vinh Sơn ở Trung Hoa đã cấm ngài không được cộng tác với báo chí nào cả và khuyên ngài nên lo cho người nghèo, và vì cha giám tỉnh chưa bao giờ đọc một bài báo nào của cha Vincent Lebbe viết, cũng chưa bao giờ nghe cha Vincent Lebbe diễn thuyết cả, cho nên đã lập tức cấm cha Vincent Lebbe tiếp xúc với giới báo chí, và điều quan trọng là ngài không biết nói tiếng Trung Hoa[2] để hiểu được tâm tình con người và văn hóa Trung Hoa.
Cha Vincent Lebbe đã làm cho người Trung Hoa cảm phục và yêu mến rồi kinh trọng, bởi vì tinh thần truyền giáo của ngài đặt trọng tâm vào người Trung Hoa, và tất cả vì người Trung Hoa, cho nên ngay từ khi còn là đại chủng sinh được bề trên phái đi truyền giáo ở Trung Hoa, thì ngài đã tiếp xúc với các thầy người Trung Hoa mà không đùa giỡn với các thầy Âu châu, ngài kiếm sách tiếng Hoa đọc và xin các thầy người Trung Hoa cắt nghĩa những chữ mà ngài không biết. Khi bập bẹ nói được vài tiếng Trung Hoa thì ngài đi đến công trường xây cất nhà thờ để nói chuyện với thợ[3]...
Ngay từ ban đầu Chúa đã mời gọi cha Vincent Lebbe làm tông đồ cho người Trung Hoa, nên đã trang bị cho ngài những đức tính cần có để ngài làm công tác truyền giáo, những đức tính đó là: cương nghị, dũng cảm, ham học hỏi và một tấm lòng yêu thương người Trung Hoa.
Tinh thần tu đức của cha Vincent Lebbe được hình thành trong những năm tháng khi vừa bước chân xuống mảnh đât Trung Hoa, và các tinh thần tu đức này ngày càng được cha Vincent Lebbe thực hành, cảm nghiệm mà thành.

NIỀM VUI LUÔN LUÔN MỚI MẺ CỦA TIN MỪNG
NIỀM VUI ĐƯỢC CHIA SẺ CỦA CHA VINCENT LEBBE

Trong tông huấn “Niềm Vui Tin Mừng”, đức giáo hoàng Phan-xi-cô đã thấy trước mối đe dọa thế giới do vật chất và sự hưởng thụ, ngài nói: “Mối nguy lớn trên thế giới hôm nay, một thế giới hầu như thấm nhiễm chủ nghĩa tiêu thụ, đó là cảm giác cô đơn và lo lắng phát sinh từ một con tim tự mãn nhưng tham lam, sôi nổi chạy theo những thú vui phù phiếm, và một lương tâm chai lỳ.”[4]
Niềm vui của Tin Mừng không phải bằng vật chất và sự hưởng thụ nó, nhưng chính là làm thế nào để mỗi linh mục, phó tế và những người đã được thánh hiến cho Thiên Chúa thấy được rằng, chính Chúa là niềm vui trong đời sống thánh hiền của họ. Bởi vì khi nhận Chúa làm gia nghiệp đời mình -thì cũng giống như người con có cả gia tài đồ sộ do cha mẹ để lại- không những hân hoan vui sướng hưởng thụ những ơn lành Chúa ban cho mà còn làm sinh lợi ra nhiều nơi các linh hồn.
Khi chọn vật chất làm thỏa mãn cuộc sống tu trì của mình, thì chính các linh mục, phó tế và các tu sĩ nam nữ đã về cùng với ma quỷ và thế gian để chống lại Thiên Chúa, đó không phải là niềm vui của Tin Mừng nữa, mà là tin mừng của sự chết nơi họ và lây lan qua người khác. Lúc đó họ như những công cụ truyền bá một mối nguy hại cho Giáo Hội và mỗi người giáo dân, nhất là những giáo dân mà linh hồn của họ được giáo phó cho các linh mục, phó tế và các tu sĩ ấy.
Khi chọn Chúa là gia nghiệp của mình, thì ân sủng của Chúa sẽ làm cho chúng ta được đổi mới hằng ngày, được tắm gội hằng ngày không phải bởi toan tính vật chất, mà là bởi những ân huệ mà Chúa ban cho chúng ta qua những hy sinh tìm tòi để công cuộc rao giảng Tin Mừng của mình được thăng hoa trưởng thành và cắm sâu vào trong tâm hồn của các tín hữu.
Cha Vincent Lebbe là một người như thế, đối với ngài tất cả đều là người Trung Hoa và người Trung Hoa thuộc về Chúa Ki-tô. Thấm nhuần tình yêu “người Trung Hoa thuộc về Chúa Ki-tô” nên khi vừa bước vào cửa ngõ Bắc Kinh, ngài rất ngạc nhiên khi thấy các giáo sĩ ngoại quốc đối xử phân biệt với các giáo sĩ người Trung Hoa, và tự trong tâm của ngài, ngài thấy rằng chúng ta -những giáo sĩ ngoại quốc- đến Trung Hoa là để truyền giáo, là đem ánh sáng Tin Mừng của Chúa cho người Trung Hoa, nên ngài đã phá bỏ luật lệ bất thành văn là chỉ nói chuyện với các giáo sĩ ngoại quốc, vì các giáo sĩ người bản địa thì chỉ được coi là hạng thứ- cha Vincent Lebbe đã quan tâm đến các thầy người Trung Hoa trong nhà dòng, và lấy làm vui khi được chia sẻ với họ những gì mình có, mà cái có lớn nhất của ngài là một trái tim yêu mến người Trung Hoa hơn cả người Trung Hoa yêu mến tổ quốc mình.
Vì tự mãn mình là giáo sĩ hạng nhất (ngoại quốc) nên các giáo sĩ trong dòng Vinh Sơn (Vincent de Paul) của cha Vincent Lebbe đã sống xa rời thực tế và xa lạ với người Trung Hoa ngay cả khi sống trên đất nước Trung Hoa, đây là mối nguy hiểm khôn lường cho việc truyền bá Phúc Âm giữa các dân tộc, là sự tự mãn làm hủy diệt những con người có tâm hồn hưởng thụ và ích kỷ, họ đã như những chủ nhân ông trên cánh đồng truyền giáo trung Hoa như đức giáo hoàng Phan-xi-cô đã nói ở trên.
Niềm vui chia sẻ khi sống giữa xã hội, giữa con người với nhau, rất cần đến những con người can đảm chặt sợi xích vàng đang ràng buộc đôi chân của mình trong hưởng thụ và sự đi tìm kiếm vật chật, để “đôi chân tâm hồn” của họ thong dong tiến bước về phía trước và đến với mọi người. Bởi vì niềm vui của Tin Mừng thì luôn đổi mới, luôn làm cho tâm hồn của chúng ta mới bởi sự hướng dẫn của Đức Chúa Thánh Thần; bởi vì khi chúng ta dấn thân ra đi thì mỗi bước chân của chúng ta đều là những dấu chân mới mẽ trên con đường truyền giáo.
Đức giáo hoàng Phan-xi-cô nói tiếp: “Khi mà đời sống nội tâm của chúng ta bị trói chặt trong những lợi ích và những mối quan tâm riêng của nó, thì không còn chỗ cho người khác, không còn chỗ cho người nghèo. Tiếng nói của Thiên Chúa không còn được nghe thấy, niềm vui an bình của tình yêu của Người không còn được cảm thấy, và ước muốn làm điều thiện bị phai mờ. Đây chính là một mối nguy cho cả người tín hữu. Nhiều người rơi vào mối nguy này, và kết cục là cảm giác bực bội, tức giận và chán nản. Đó không phải là cách để chúng ta sống một đời sống xứng đáng và sung mãn; đó không phải là ý muốn của Thiên Chúa đối với chúng ta, cũng không phải là đời sống trong Thần Khí bắt nguồn từ trái tim của Đức Kitô phục sinh.”[5]
Linh mục Jacques Leclercq[6] cũng đã nói về sự từ bỏ tất cả để theo Chúa và truyền giáo của cha Vincent Lebbe: “Ngài yêu thương tất cả những cái gì tốt đẹp, sẵn sàng hy sinh tất cả: hai điểm rất trái ngược này hòa hợp nơi con người cha Vincent Lebbe một cách thật tự nhiên; đó là một đặc tính của đạo công giáo. Yêu thương tha thiết và cắt đứt dễ dàng tất cả liên lạc ràng buộc khi Chúa đòi hỏi, nhưng không từ chối những liên hệ cao quý đó...”
Thế kỷ 21 là thế kỷ của khoa học vật chất và hưởng thụ, bởi vì những phát minh hiện đại đang có là để con người hưởng thụ và hưởng dùng, và đó cũng là nằm trong ý định của Thiên Chúa khi tạo dựng con người thay Ngài làm chủ thế giới và làm cho thế giới có bộ mặt ngày càng tốt đẹp hơn: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển chim trời và mọi giống vật bò trên mặt đất.”[7] Nhưng con người bởi tội nguyên tổ đã không còn nguyên vẹn hình hài thánh thiện của Thiên Chúa nơi họ nữa, bởi vì đã bất tuân lệnh Chúa mà phạm tội, nên tâm hồn luôn hướng về điều xấu xa của ma quỷ.
Thế kỷ 21 là thế kỷ chói lọi của khám phá vũ trụ cao tít trên xa và sâu tận cùng đáy biển, nhưng khoa học chưa khám phá ra tâm hồn của con người cao và sâu bao nhiêu. Chỉ có những tâm hồn biết đón nhận Tin Mừng làm niềm vui của mình thì mới có thể thấy rõ tình trạng của tâm hồn mình.
Và một tờ báo trong vùng Thiên Tân đã viết về cha Vincent Lebbe như sau: “Vị linh mục đó có một đức tin nhiệt thành, làm công tác tông đồ không biết mệt, cả Thiên Tân mến phục và tôn kính.”[8] Đến nỗi người ta nói rằng : Tôi không thấy Chúa, nhưng đã thấy cha Vincent Lebbe.”
Người ta không thấy Chúa nhưng người ta thấy Chúa nơi con người của cha Vincent Lebbe. Ngài không để cho mọi sự ở đời làm ảnh hưởng đến việc truyền giáo của ngài, ngài đã sống như một con người thời đại của thế kỷ 21, nghĩa là ngài đã đi ra khỏi bốn bức tường bảo thủ cô độc giam hãm lời của Thiên Chúa nơi những người truyền giáo, ngài đã dấn thân đưa tay ra trước để cho người khác nắm và lôi kéo họ về với Chúa cách nhẹ nhàng nhưng rất quyết liệt. Bí quyết thành công của ngài như linh mục Jarques Leclercq nói: “Ngài yêu thương người Trung Hoa.”[9]
Ngài sung sướng khi được hòa mình vào cuộc sống với người Trung Hoa, ước mơ từ tuổi thơ ấu đã muốn qua Trung Hoa truyền giáo của ngài đã thành hiện thực, giờ đây ngài đang sống như một người Trung Hoa chính hiệu dù cho đôi mắt xanh, da trắng cái mũi cao của ngài cũng không làm cho người Trung Hoa coi người là linh mục ngoại quốc.
Được đổi mới bằng niềm vui của Tin Mừng, cha Vincent Lebbe đã chia sẻ niềm vui này cho những ai tiếp xúc hoặc làm việc với ngài, niềm vui chia sẻ này đã trở thành một trong ba đường hướng tu đức của ngài và của hai hội dòng là hội dòng Tiểu Đệ Thánh Gioan Tẩy Giả và hội dòng Tiểu Muội thánh Tê-rê-xa Hài Đồng do ngài sáng lập, đó chính là “Luôn Vui Vẻ”. Một người quảng cáo sản phẩm bột giặt của công ty mình mà mặc bộ áo quần nhơ bẩn thì không ai tin vào sản phẩm quảng cáo trắng tin của mình. Cũng vậy, cha Vincent Lebbe với “ba sản phẩm” tu đức được rút ra từ trong Phúc Âm là “Toàn Hy Sinh, Thật Yêu Người và Luôn Vui vẻ” vẫn cứ luôn luôn đổi mới trong cuộc sống của các tiểu đệ và tiểu muội.
Cha Vincent Lebbe luôn tươi cười trong mọi hoàn cảnh, ngài chia sẻ niềm vui này với mọi người dù tâm hồn ngài nặng nề đau buồn với những lo âu của người lãnh đạo với nhiều trong trách. Niềm vui chia sẻ này đã làm cho những người ngoại giáo nhận ra được một Đức Chúa Giê-su nơi con người của cha Vincent Lebbe.

KẾT:
        Tĩnh tâm để lãnh nhận chức thánh (linh mục) là một cuộc tĩnh tâm đúng nghĩa với việc cầu nguyện cho ơn gọi và sứ mạng của mình, hai là suy tư đến những trách nhiệm và bổn phận của mình sau khi chịu chức linh mục. Bởi vì đây là cuộc tĩnh tâm để đón nhận ơn Chúa chứ không phải là một cuộc kiểm điểm lại những chặng đường ơn gọi của mình đã đi qua. Bởi vì những chặng đường ơn gọi là chúng ta phải suy tư và cầu nguyện, phận biện, lựa chọn mỗi ngày trong đời sống tu trì, chứ không phải đợi đến tĩnh tâm để khấn dòng hoặc để chịu chức thì mới suy tư đến ơn gọi của mình...
        Để tài niềm vui truyền giáo của đấng sáng lập dòng chúng ta là cha Vincent Lebbe và đối chiếu lại tông huấn Niềm vui Tin Mừng của đức giáo hoàng Phan-xi-cô, thì chúng ta mới thấy được viễn ảnh truyền giáo ngày mai của mỗi người. Cho nên các anh em hãy lợi dụng những ngày tĩnh tâm này, đề nói chuyện tương lai -chứ không nói chuyện quá khứ- với Chúa, hãy luôn sẵn sàng mở rộng tâm hồn của mình ra để đón ngọn gió niềm vui chia sẻ, để dựa vào niềm vui của Tin Mừng mà chúng ta biết phải đem đi những gì và bỏ lại những gì khi thành lễ tạ ơn (mở tay) đã kết thúc, và con đường trước mặt đã mở ra để các tiểu đệ hăng hái ra đi chia sẻ Niềm Vui Tin Mừng cho mọi người.

Câu hỏi gợi ý:
1.      Đối với các tiểu đệ: Niềm Vui Tin Mừng là gì ?
2.      Các tiểu đệ có kế hoạch gì sau này cho mình khi được sai đi truyền giáo ?


Ngày thứ hai:

NIỀM VUI CHIA SẺ CỦA CHA VINCENT LEBBE
TÂN PHÚC ÂM HOÁ
ĐỂ THÔNG TRUYỀN ĐỨC TIN CỦA TÔNG HUẤN NIỀM VUI TIN MỪNG

1/ Tân Phúc Âm hóa giữa đời thường.
Không một nhà truyền giáo thành công nào mà không yêu mến Thiên Chúa, càng không có một người truyền giáo nào lại khước từ mình với nơi chốn mà mình đến giàng Tin Mừng cho họ, bởi vì khi chúng ta -những nhà truyền giáo- không cách tân đổi mới từ suy nghĩ cho đến hành động, thì chắc chắn sẽ không đem lại kết ảu nào. Nhưng cha Vincent Lebbe đã làm được điều ấy: “Cha Vincent Lebbe thật sự sống cho tất cả mọi người, từ trẻ con đến người lớn, cho cả người lớn cũng như cho cả trẻ con...ngài mặc áo vải bông màu xanh như người dân thường Trung Hoa, đi giữa dân chúng trông như một người Trung Hoa, không có gì khác biệt ngoài chiếc xe đạp...Chiếc xe đạp này của ngài được chứng kiến nhiều chuyện ! Chính ngài đã khởi xướng dùng xe đạp ở Trung Quốc, khi nào có thể là ngài tránh không ngồi xe kéo, đi gần ngài dùng xe đạp, đi xa cũng dùng xe đạp...”[10] cha Vincent Lebbe đã thực hành lời dạy của thánh Phao-lô tông đồ: vui với người vui, buồn với người buồn, ngài không cam tâm làm một giáo sĩ chỉ truyền giáo ở trong nhà thờ với phạm vị nhà cha sở, nhưng ngài đã đi ra khỏi nhà thờ, ra khỏi nhà xứ để mở rộng cửa tâm hồn đón nhận những người Trung Hoa muốn tìm Chúa.
Cha Vincent Lebbe đã trở thành người Trung Hoa để Phúc Âm hóa người Trung Hoa, ngài đã cổ vũ mọi người đi xe đạp để được như người nghèo khó Trung Hoa, chứ không ngồi xe kéo như một chủ nhân ông, và ngài sẵn sàng chia sẻ với tất cả những ai có nhu cầu tìm đến ngài.
Đức giáo hoàng Phan-xi-cô trong tông huấn “Niểm Vui Tin Mừng” đã nhấn mạnh: “Tất cả những điều này có tầm quan trọng lớn đối với việc rao giảng Tin Mừng, nếu chúng ta thực sự quan tâm làm cho vẻ đẹp của Tin Mừng được mọi người nhận ra rõ hơn và đón nhận. Đương nhiên chúng ta sẽ không bao giờ có thể làm cho giáo huấn của Hội Thánh được mọi người hiểu một cách dễ dàng và sẵn sàng chấp nhận. Đức tin mãi mãi vẫn là một thứ thập giá; nó luôn luôn hàm chứa một mảng mờ tối bất chấp sự ưng thuận vững vàng. Một số điều chỉ có thể được hiểu và chấp nhận từ cơ sở của sự ưng thuận này, người chị em với đức ái, vượt lên trên các lý do hay lập luận rõ ràng. Chúng ta cần nhớ rằng mọi lời giảng dạy tôn giáo rốt cuộc đều phải được phản chiếu nơi cách sống của người giảng dạy, chính cách sống này đánh thức sự ưng thuận của quả tim bằng sự gần gũi, yêu thương và chứng tá của nó.”[11]
Đối chiếu giữa tông huấn “Niềm Vui Tin Mừng” và “Luôn Vui Vẻ” một trong ba linh đạo tu đức của cha Vincent Lebbe thật hài hòa, bởi vì một sự hội nhập luôn luôn cần có yếu tố từ bỏ: từ bỏ cái tôi của mình, từ bỏ những thiên kiến của mình để được xã hội mà chúng ta đang truyền giáo chấp nhận chúng ta như những người con người Trung Hoa thật thụ. Cha Vincent Lebbe đã làm được điều đó khi ngài hòa nhập vào cuộc sồng nghèo khổ của người Trung Hoa, học văn hóa và những phong tục tập quán của người trung Hoa để trở thành người Trung Hoa. “Chúng ta cần nhớ rằng mọi lời giảng dạy tôn giáo rốt cuộc đều phải được phản chiếu nơi cách sống của người giảng dạy, chính cách sống này đánh thức sự ưng thuận của quả tim bằng sự gần gũi, yêu thương và chứng tá của nó.” Chính cha Vincent Lebbe đã làm được việc này trong thời đại của ngài của thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Cuộc sống của cha Vincent Lebbe phản ảnh lại những gì ngài đã nói đã dạy, để niềm vui chia sẻ của ngài được người dân Trung Hoa đón nhận.
Tân phúc âm hóa không có nghĩa là tìm ra những giáo điều khác nhưng là thích ứng với cuộc sống và truyển giáo hiện tại, nghĩa là -ngay tự trong tâm hồn- cần phải chuyển biến theo đả phát triển của xã hõi, mặc khác nắm bắt thời cơ và dấu chỉ để việc truyền giáo được như mong ước.

2/ Niềm vui chia sẻ giữa đời thường.
        Truyền giáo là một nghệ thuật, tuy nó không phải là một môn hay một ngành học như các ngành học về kiến thức chuyên môn khác, nhưng nó đúng là một nghệ thuật mà chỉ có những ai yêu mến và từ bỏ những gì mình có thì mới có thể trở thành nhà truyền giáo, hay nói đúng hơn, trở thành công cụ truyền giáo của Thiên Chúa.
        Cha Vincent Lebbe quá nhiệt thành với Đức Chúa Giê-su, nhân từ, hăng say, đón nhận tất cả những ý tưởng đại lượng và các sáng kiến hoạt động tông đồ, ngài cững thật khiêm tốn và siêu thoát, nghĩa là ngài đã không bảo thủ khép kín tâm hồn và trí óc của mình, nhưng đã mở ra đế đón nhận tất cả, đó là thái độ của người muốn tân Phúc Âm hóa cho kịp với thời đại, với cha Vincent Lebbe mà nói thì bất kỳ ở đâu, bất kỳ hoàn cảnh nào cũng đều có thể trở thành tân Phúc Âm hóa để loan truyền niềm tin cứu độ của Đức Chúa Giê-su.
Cha Vincent Lebbe phân vân giữa vâng lời và bác ái. Vâng lời theo luật dòng là một nhân đức siêu nhiên tuyệt đối và cha Vincent Lebbe đã chọn vâng lời dù như thế nào đi nữa, và vì vâng lời mà ngài đã bỏ tất cả những gì là thân yêu nhất không một phút do dự.
Giáo Hội không được xem như là một tổ chức xa lạ cho một khu vực hay một dân tộc, một quốc gia riêng rẽ. Bởi vì Giáo Hội là hoàn cầu, là ơn cứu độ cho toàn thể thế giới, mọi dân tộc, cho nên bất kỳ dân tộc nào cũng đều có thể cung cấp giáo sĩ để làm cho dân tộc mà họ được sai đến biết lề luật của Thiên Chúa và hướng dẫn họ trên con đường cứu rỗi. Đó chính là niềm vui và sứ mạng của Giáo Hội và cũng là niềm vui của người ra đi rao giảng Tin Mừng của Chúa cho mọi người.
Niềm vui trong đời truyền giáo không phải bắt tay là thành công là thành tựu, nhưng như trong tông huấn “Niềm vui Tin Mừng” đã nói: “Thật vậy, “hoạt động truyền giáo hôm nay vẫn là thách thức lớn nhất cho Hội Thánh” và “nhiệm vụ truyền giáo phải là nhiệm vụ hàng đầu”. Sự thách thức này trước hết từ quan điểm của những con người bảo thủ trong một cộng đoàn truyền giáo, cho nên việc huấn luyện cho các giáo sĩ bản địa là việc cấp thiết, bởi vì một ngày kia họ sẽ là những người chịu trách nhiệm gánh vác công việc truyền giáo của xứ sở mình. Cha Vincent Lebbe đã thấy được điều đó cách đây cả thế kỷ, và ngài bằng mọi cách vận động để thành lập hàng giáo phẩm địa phương[12]. Qua những năm tháng vận động trong đau khổ, bị hiểu lầm, bị chê cười.v.v...cuối cùng cũng có đức giám mục người Trung Hoa. Đây là niềm vui to lớn và là thành quả của sự suy tư chín mùi và thực tế của cánh đồng truyền giáo Trung Hoa.
Cha Vincent Lebbe có những niềm vui nho nhỏ trong đời truyển giáo tại Trung Hoa của ngài: ngài thích mặc y phục Trung Hoa, (khác với những thừa sai khác cũng mặc y phục Trung Hoa, nhưng râu tóc thì lại theo kiểu Âu châu) ngài cạo râu, để tóc đuôi dài như người Trung Hoa chính hiệu, dùng đũa khi ăn cơm và ăn những món ăn trung Hoa. Niềm vui này ngài chia sẻ cho em trai của mình ở trời Âu: “Robert nhỏ của anh, nếu em biết được có những ngày tốt đẹp, những cuộc trở lại đạo tuyệt diệu, những buổi chiều tốt ngồi giữa những giáo dân của những thế kỷ đầu tiên; ngồi dưới mái tranh của nhà người Trung Hoa nào đó, nhìn làn khói ánh bạch lạp lung linh, ngồi dựa tay trên thành ghế, thưởng thức hương vị và hít hơi thuốc ngon lành của Mãn Châu; (có lúc người ta sống hưởng thụ chút xíu) trẻ con quây quần chung quanh, chúng thật ngoan ngoãn hiền lành và ngây thơ, các người nông dân có đạo tâm hồn can đảm như những hòn đá gắn chặt vào đức tin thánh thiện của chúng ta...”[13] Niềm vui của Tin Mừng được chia sẻ là như vậy, được người bản địa đón nhận như người nhà của mình là một hạnh phúc lớn cho người truyền giáo, cha Vincent Lebbe đã có rất nhiều sáng kiến để việc truyền giáo của mình ở mảnh đất Trung Hoa có hiệu quả, đó chính là tân Phúc Âm hóa cuộc sống của cá nhân cho phù hợp với hoàn cảnh địa phương, đó chính là không ngừng làm việc tiếp xúc và học hỏi văn hóa của người bản xứ...

3/ Tân Phúc Âm hóa của các Tiểu Đệ.
        Với cương lĩnh tinh thần tu đức của đấng sáng lập dòng (cha Vincent Lebbe), với sự hướng dẫn của đức giáo hoàng trong tông huấn “Niềm Vui Tin Mừng” chúng ta thấy rất rõ việc cấp bách của Giáo Hội trong thế giới ngày nay là truyền giáo, Giáo Hội không ngừng canh tân công việc truyền giáo của mình, và mời gọi tất cả những ai là con cái của Giáo Hội mạnh dạn ra đi rao giảng Tin Mừng.
        Các tu sĩ của hội dòng Tiểu Đệ Thánh Gioan Tẩy Giả cũng sẽ ra đi và làm chứng cho Tin Mừng của Chúa trong xã hội hiện nay. Cương lĩnh tinh thần tu đức đã được cha Vincent Lebbe sống và thực hành, và ngài đã thành công trong việc truyền giáo tại trung Hoa, ngài vẫn luôn là thầy dạy là mẫu gương truyền giáo cho con cái của Ngài là các tu sĩ của 2 hội dòng Tiểu Đệ Thánh Gioan Tẩy Giả và hội dòng Tiểu Muội thánh Tê-rê-xa Hài Đồng.
        “Toàn hy sinh, Thật yêu người và Luôn Vui Vẻ” là ba bảo bối được cha Vincent Lebbe đúc kết từ những kinh nghiệm truyền giáo, và cũng là ba câu vè rất chính xác nói lên công việc của các anh em tiểu đệ và tiểu muội. Là ba bước tu đức nhảy vọt, là kim chỉ nam để nên thánh của các tiểu đệ, tiểu muội và là hướng dẫn mẫu mực để chúng ta sống.
Tân Phúc Âm hóa của các tiểu đệ là gì, nếu không phải là nên đồng hình đồng dạng với những con người mà chúng ta muốn đem Chúa và Giáo Hội đến cho họ. Thử đề nghị như sau:
Toàn hy sinh:
-          Không thay đổi hiện trạng, nhưng điều chỉnh tâm hồn theo hoàn cảnh hiện trạng.
-          Không đứng xa xa nhưng hội nhập vào cuộc sống của người dân.
Không đứng bên ngoài nhưng trở thành men trong bột.
Thật yêu người:
-          Vui với người vui, khóc với người khóc.
-          Đưa tay ra và nắm bắt con tim của người khác.
-          Là gương mẫu trong cuộc sống như lời mình rao giảng.
Thật yêu người:
-          Hy sinh thời gian cá nhân của mình.
-          Luôn tỉnh thức (sẵn sàng) để mau lẹ thực hành đức ái.
-          Không phân biệt người có đạo hay không có đạo.
Chắc chắn việc rao giảng Lời Chúa trong xã hội ngày nay sẽ không dể dàng, bởi vì ai cũng có thể tiếp cận với những khoa học, ai cũng có thể tra cứu dữ liệu trên trang mạng xã hội, và giữa rất nhiều thắc mắc cũng như giải đáp, thật có giả có, làm cho tin h thần con người thời nay hoang mang không phận biệt đâu là lời của Giáo Hội và đâu là lời của thế gian và ma quỷ...

Câu hỏi gợi ý:
1.      Nếu được sai đi truyền giáo trong hoàn cảnh phồn vinh, thì bạn nghĩ sao ?
2.      Tân Phúc Âm hóa, theo bạn có cần thiêt không ?

Ngày thứ ba:

“NIỀM VUI TIN MỪNG”: TRUYỀN GIÁO LÀ HÒA NHẬP.
CHA VINCENT LEBBE: PHẦN CON, CON PHẢI LÀM VIỆC.

Tông huấn “Niềm Vui Tin Mừng” đã chỉ ra các nguyên nhân khó khăn trong việc truyền giáo của thế kỷ này.“Đồng thời, những thay đổi văn hoá sâu rộng và nhanh chóng hôm nay đòi chúng ta không ngừng tìm kiếm những cách thức diễn tả các chân lý bất biến bằng một ngôn ngữ làm nổi bật sự mới mẻ vững bền của chúng. “Kho ký thác đức tin là một chuyện... cách diễn tả nó lại là chuyện khác”. Có khi người Kitô hữu nghe một ngôn ngữ hoàn toàn chính thống, nhưng lại hiểu về một cái gì xa lạ với Tin Mừng đích thực của Đức Giêsu, bởi vì ngôn ngữ kia khác với cách họ dùng để nói với nhau và hiểu nhau. Với ý hướng thánh thiện muốn thông truyền chân lý về Thiên Chúa và loài người, chúng ta đôi khi [vô tình] cống hiến cho họ một vị thần giả tạo hay một lý tưởng nhân loại không thực sự là Kitô giáo. Cứ thế, chúng ta cố bám vào một công thức trong khi không chuyển đạt được nội dung cơ bản của nó. Đây là mối nguy lớn nhất. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng “chân lý có thể được diễn tả bằng những hình thức khác nhau. Việc đổi mới các cách diễn tả này trở thành cần thiết để thông truyền cho con người ngày nay sứ điệp Tin Mừng trong ý nghĩa không thay đổi của nó”.[14]
Cha Vincent Lebbe thụ phong linh mục ngày 28/10/1901, trên ảnh kỷ niệm thụ phong linh mục ngài đã cho in lời của thánh Phao-lô nhắn nhủ ông Ti-mô-tê: “Về phần con, con hãy lảm việc” (Tu, vero. Labora). Chính câu châm ngôn này đã đi suốt cuộc đời của ngài trong công cuộc truyền giáo cho người Trung Hoa.
Hòa nhập vào một cộng đồng xa lạ với tất cả ngôn ngữ bất đồng, văn hóa, phong tục tập quán, thậm chí ngay cả việc ăn uống cũng có cá biệt, thì thật là khó khăn, nhưng lệnh truyền của Đức Chúa Giê-su cho giáo hội là phải ra đi và rao giảng Tin Mừng cho muôn dân vẫn còn đó, và giáo hội phải tiếp tục sư mạng cứu thế của Thầy Chí Thánh cho đến tận bờ cõi trái đất.
Ngôn ngữ truyền giáo sống động nhất và hiệu quả nhất là ngôn ngữ của yêu thương, là hành động tích cực chứ không chỉ nói suông, do đó mà người truyền giáo cần phải suy tư nhìn ngắm khuôn mặt và những hành động của Đức Chúa Giê-su khi Ngài rao giảng Tin Mừng cho người Do Thái, Ngài làm việc không ngừng, ngay cả giờ ăn cũng không có.
Đức Chúa Giê-su giảng dạy không theo một phương pháp cứng nhắc nào, nhưng phương pháp tạo ra hiệu quả và ứng dụng “dây chuyền” tuyệt vời nhất là “tùy tâm隨心”, tức là để cho con tim rung động đập theo hoàn cảnh của cuộc sống nơi những người đau khổ và bất hạnh. Đức Chúa Giê-su hòa nhập vào môi trường thiên nhiên nên mới có dụ ngôn “chuồng chiên” và “con chiên lạc”; Đức Chúa Giê-su hòa nhập với những người được coi là tội lỗi nên đã có một tông đồ Mat-thêu, mới có thêm người phụ tá là Ma-ri-a Mác-đa-la, và có thêm những dân ngoại tin vào ơn cứu chuộc mà Ngài đem tới. Sự hòa nhập này không phải phối cảnh tình tiết như sân khấu hay như một chương trình đại chúng, mà là do sự nhiệt tình truyền giáo của Đức Chúa Giê-su, tức là luôn luôn làm theo ý Cha trên trời, bởi vì như Ngài nói: Cho đến bây giờ Cha Ta vẫn đang còn làm việc[15], Tôi và Cha là một[16].
        Cha Vincent Lebbe đã làm việc không ngừng như Đức Chúa Giê-su đã làm, con người của ngải như con thoi của người thợ dệt, thoăn thoắt lên rồi thoăn thoắt xuống để dệt ra cho Chúa những tấm vải tuyệt diệu là linh hồn của những người ngoại giáo quy y về với Chúa. Phương pháp làm việc của cha Vincent Lebbe vẫn cứ là không có phương pháp, mà chỉ có một bầu nhiệt huyệt truyền giáo đầy tình thương đối với người Trung Hoa.

1.      Vấn đề truyền giáo của cha Vincent Lebbe.
Cha Vincent Lebbe rất có kinh nghiệm truyền giáo, nhưng sau này ngài đã hối hận với cách truyền giáo kiểu Tây Ban Nha của ngài, nghĩa là ngài bị lôi cuốn theo phương pháp dùng sức mạnh để đưa người ta vào giáo hội, và ngài nói có lẽ đây là lỗi lầm hồi còn trẻ và đôi lúc ngài nhắc lại.[17] Cũng như chúng ta bây giờ, người dân Trung Hoa không phản đối cách truyền giáo này, bởi vì họ thường quy phục quyền bính của giáo hội, mà cụ thể là qua các linh mục chính xứ, các ngài độc đoán, độc tài uy quyền.v.v...từ lỗi lầm đó, ngài đã thay đổi lại cách thức truyền giáo của mình cho phù hợp với tinh thần Phúc Âm, và phù hợp với những giáo huấn của giáo hội. Năm 1883 thánh bộ truyền giáo lại nhắc nhở các giáo phận ở Trung Hoa: “Mục đích chính yếu của việc truyền giáo là đem người ngoại trở về với Chúa Ki-tô, Chúa chúng ta !nhận biết người là được sống đời đời, vì vậy các giám mục phải tận tâm lo lắng...”[18]

Phương pháp truyền giáo của cha Vincent Lebbe
a/ Cứng nhắc.
-          Ngài chăm lo cho tân tòng khi họ đến nhà xứ học giáo lý.
-          Đào tạo các thày giảng có chất lượng.
Ưu điểm: các tân tòng không lo việc ăn uống, mà giáo xứ lo cho họ.
Khuyết điểm: Chỉ quan tâm trước hết những người trở lại, còn những người tân tòng có thiện ý hay không, cũng không đáng trách.
b/ Hòa nhập.
-          Cùng làm việc, tham gia sinh hoạt với mọi lứa tuồi.       
-          Học hỏi cách ứng xử của người Trung Hoa (mặc y phục Trung Hoa, dung2 đũa khi ăn cơm, hút thuốc lào.v.v...)
-          Suy nghĩ như người Trung Hoa.
-          Hoàn toàn vì người Trung Hoa.
Ưu điểm: Có nhiều người lãnh nhận bí tích Rửa Tội, và tinh thần giáo dân rất nhiệt tình với tín ngưỡng của họ.
Khuyết điểm: Các đồng nghiệp không thích và chống đối.

2.      Sự đòi hỏi hòa nhập của tông huấn “Niềm vui Tin Mừng”.
“Bản thân Hội Thánh là một người môn đệ truyền giáo, cần phải học phát triển việc giải thích lời mặc khải và sự hiểu biết của mình về chân lý.” Khi nói đến “bản thân hội thánh” thì đức giáo hoàng Phan-xi-cô nhắm đến mỗi một phần tử trong hội thánh, tức là những người đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội, đặc biệt là những nhà truyền giáo cần phải học phát triển việc giải thích lời mặc khải.
Đương nhiên ngoài nghĩa đen là phải học cách giải thích Lời Chúa cho người nghe, mà quan trọng hơn là tự bản thân của người truyền giáo cũng là cách giải tích lời mặc khải, tức là qua cách sống của họ mà người ta hiểu ra được lời mặc khải không xa lạ gì với họ, mà gần gủi bên cạnh họ, đó là những nhà truyền giáo vậy.
Không ai cho cái mà mình không có, cũng như không ai đi buôn mà không có vốn.
Hòa nhập vào một cộng đồng xã hội (lớn hay nhỏ) cũng đều bắt buộc người truyền giáo phải đem cả tâm hồn và sức lực của mình “ném” vào trong cộng đồng ấy, để cộng đồng ấy bùng cháy lên lửa yêu thương của Đức Chúa Giê-su. Khi tinh thần và thể xác được cống hiến cho một tình yêu cứu rỗi, thì người truyền giáo sẽ cảm nhận và hiểu được “men và bột” “bóng đêm và ánh sáng” của Đức Chúa Giê-su đã nói.
a/ Hòa nhập:
-          Tâm hồn và thân xác.
-          Quên đi cái tôi và thân phận của mình (như CGS đã quên mình đồng bản tính với Chúa Cha).
-          Đón nhận cộng đồng mới như là gia đình của mình.
-          Biết thao thức cho cộng đồng và cùng với cộng đồng thao thức.

Cuối cùng, xin mượn lời nói của cha Vincent Lebbe để kết thúc ba ngày tĩnh tâm của chúng ta:
Nếu tôi cứ sống như người Âu châu, thì tôi sẽ mãi mãi là một tử thi.”

Taiwan, ngày 10/05/2018
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.



       


[1] Luật dòng điều 7 mục 2.
[2]Cuộc đời cha Lôi Minh Viễn”, của linh mục Jacques Leclercq, do bà Bùi Văn Tuyền dịch từ tiếng Pháp.
[3]Cuộc đời cha Lôi Minh Viễn”, của linh mục Jacques Leclercq, do bà Bùi Văn Tuyền dịch từ tiếng Pháp.
[4] Tông huấn “Niểm Vui Tin Mừng”, số 2.
[5] Tông huấn “Niềm Vui Tin Mừng, số 2.
[6] Tên Hán Việt là Lổi Trấn Viễn bạn thân của cha Vincent Lebbe.
[7] Sáng thế ký 1, 28.
[8]Cuộc đời cha Lôi Minh Viễn”, của linh mục Jacques Leclercq, do bà Bùi Văn Tuyền dịch từ tiếng Pháp.
[9] “Cuộc đời cha Lôi Minh Viễn”, của linh mục Jacques Leclercq, do bà Bùi Văn Tuyền dịch từ tiếng Pháp.
[10] “Cuộc đời cha Lôi Minh Viễn”, của linh mục Jacques Leclercq, do bà Bùi Văn Tuyền dịch từ tiếng Pháp.
[11] Tông huấn “Niềm Vui Tin Mừng, số 42.
[12] Bây giờ gọi là “hội đồng giám mục địa phương”.
[13] “Cuộc đời cha Lôi Min h Viễn”, của linh mục Jacques Leclercq, do bà Bùi Văn Tuyền dịch từ tiếng Pháp.
[14] Tông huấn “Niềm Vui Tin Mừng” số 41.
[15] Ga 5, 7.
[16] Ga 10, 30.
[17] Cuộc đời cha Vincent Lebbe
[18] Cuộc đời cha Vincent Lebbe.