Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2026

Chúa nhật 2 thường niên

 


CHÚA NHẬT 2 THƯỜNG NIÊN


Tin mừng : Ga 1, 29-34.
“Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian”.

Anh chị em thân mến,
Trước tiên chúng ta cảm tạ Thiên Chúa đã gởi đến cho chúng ta một vị đại tiên tri, đó là thánh Gioan Tiền Hô, chính ngài đã giới thiệu Đức Chúa Giê-su cho chúng ta: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”(Ga 1, 29b), nhờ đó mà chúng ta biết được Đức Chúa Giê-su là Đấng cứu độ nhân loại, là Đấng đã lập bí tích Rửa Tội để chúng ta được tái sinh làm con Thiên Chúa, và hòa giải chúng ta với Ngài qua bí tích Giải Tội.
Để trở thành người chuẩn bị đường cho Đức Chúa Giê-su đến, thánh Gioan Tiền Hô đã có đủ ba điều kiện: được chọn, được sai đi và làm chứng.
Mỗi người Ki-tô hữu đang hiện diện trong xã hội hôm nay cũng là những người được chọn -không phải để chuẩn bị- nhưng là để làm chứng cách sống động cho tình yêu của Thiên Chúa ngay trong cuộc sống của mình, và như thế, mỗi người Ki-tô hữu cũng đã có ba điều kiện trên đây để làm chứng cho Tin Mừng.
Thiên Chúa đã chọn chúng ta không như đã chọn thánh Gioan Tiền Hô: công khai kèm theo dấu lạ, nhưng Ngài đã chọn chúng ta qua đức tin của cha mẹ, qua hoàn cảnh của cuộc sống, qua bao thăng trầm của đời người, để chúng ta càng hiểu thấu đáo hơn về tình yêu của Ngài đối với chúng ta.
Thiên Chúa đã chọn chúng ta và sai chúng ta đi làm chứng cho tình yêu hy sinh trên Thập Giá của Con Một Ngài là Đức Chúa Giê-su. Ngài sai chúng ta đi vào trong những nơi phố chợ ồn ào náo nhiệt, nhưng ở đó có nhiều người tâm hồn đã lạnh tanh vì thiếu vắng tình yêu thương chân thật; Ngài sai chúng ta vào nơi công sở để rao giảng tin mừng Nước Trời bằng chính sự phục vụ chân tình của chúng ta; và cũng như thánh Gioan Tiền Hô đã vào trong hoang địa để suy tư tìm hiểu sứ mệnh của mình, Thiên Chúa cũng đưa chúng ta vào trong an tịnh của tâm hồn, không phải trong hoang địa, nhưng là sau những lần rước Thánh Thể hoặc viếng Thánh Thể, để qua xét mình kiểm thảo dưới ánh sáng Lời của Ngài chúng ta thấy mình rõ hơn...
Thiên Chúa đã chọn chúng ta và đã sai chúng ta đi, để sống những gì mình đã cảm nghiệm được trong đức tin của mình. Thánh Gioan Tiền Hô đã lấy mạng sống của mình để trả giá cho cuộc đời chứng nhân cho sự thật, ngài đã chết anh dũng như ngài đã sống can đảm giữa tội ác và thế lực của bạo chúa Hê-ro-đê.
Để sống những gì mình đã tin thì khó hơn là rao giảng bằng lời nói, bởi vì đức tin thì không thấy được, mà con người thời nay thì chỉ muốn thấy cho tường tận mới tin. Cho nên đời sống chứng nhân của người Ki-tô hữu rất quan trọng, do đó mà, khi con người thời nay đòi những dấu lạ mới tin, thì chúng ta đều có thể làm dấu lạ cách kỳ diệu, dấu lạ đó chính là sống yêu thương và phục vụ tha nhân cách chân thành, đó chính là dấu lạ như bài ca Hòa Bình của thánh Phan-xi-cô Khó Nghèo: đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm... đó chính là đức tin được thể hiện bằng hành động vậy.
Anh chị em thân mến,
Ngày xưa, thánh Gioan Tiền Hô đã giới thiệu Đức Chúa Giê-su cho các môn đệ của mình, thì ngày nay, mỗi người chúng ta giới thiệu Đức Chúa Giê-su cho người anh em chị em của chúng ta, không chỉ bằng lời nói mà thôi, nhưng còn là bằng đời sống của chính mình: đời sống yêu thương và phục vụ, đó chính là cách giới thiệu khoa học nhất và rõ ràng nhất, mà chính các thánh đã thực hành trong cuộc sống của mình.

Câu hỏi gợi ý :
- Bạn có lần nào giới thiệu Đức Chúa Giê-su cho người khác chưa ? Nếu có thì bằng cách nào ?
- Giả sử bạn là một người Ki-tô hữu nhưng rất lơ là với đức tin của mình, bạn có giật mình khi thấy có người nhắc nhở bạn là người Ki-tô hữu không ?
- Có lúc nào bạn muốn mình là thánh Gioan Tiền Hô không ?

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
-----
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info

Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện

 


93.    KHÔNG CẦN CÁM ƠN

       Có một người viết thư pháp không đẹp, nhưng rất thích đi khắp nơi viết chữ cho người ta.

       Một ngày nọ, nhìn thấy có người cầm một cái quạt trắng thì lại muốn đề chữ, người ấy từ chối và quỳ xuống. Anh ta nói:

-      “Bất quá ta chỉ viết cho ngươi vài chữ, không cần cám ơn”.

       Người ấy cười đáp:

-      “Tôi chỉ xin ông đừng đá cái quạt của tôi mà thôi !”

(Hi đàm lục)

 

Suy tư 93:

       Ở đời, hai chữ cám ơn rất là cần thiết, nhưng có những có hạng người sau đây cảm thấy không xứng đáng để nhận hai chữ cám ơn ca người khác:

-      Các linh mục không muốn nhận hai chữ cám ơn, vì các ngài biết rằng, mình chỉ là một đầy tớ vô dụng của Thiên Chúa, và chỉ làm theo ý của Thiên Chúa mà thôi.

-      Các tu sĩ nam nữ họ cũng không muốn nhận hai chữ cám ơn khi phục vụ tha nhân, vì họ đi tu là để phục vụ Đức Chúa Giê-su trong mọi người, nên họ cũng cảm thấy không xứng đáng để được cám ơn.

-      Những người giàu có họ cũng không muốn nhận hai chữ cám ơn, vì tiền bạc họ bỏ ra giúp đỡ tha nhân không phải bởi họ mà có, nhưng Thiên Chúa ban cho họ để họ thay mặt Ngài mà giúp đỡ anh chị em.

       Có hạng người không muốn dám nhận hai chữ cám ơn, thì cũng có hạng người bắt người khác phải cám ơn mình:

-      Những người thích quyền lực thì cũng thích người khác cám ơn mình, để bày tỏ mình đã ban ân huệ cho họ.

-      Những người thích khoe khoang thì cũng thích người khác cám ơn mình, để có dịp khoe khoang công đức mình đã làm cho người khác.

       Hai chữ cám ơn thì luôn phải có trên môi miệng của người lịch sự, bởi vì nó biểu lộ nét văn minh và văn hóa của một con người.

       Phải cám ơn Thiên Chúa khi người khác cám ơn mình, nhưng phải biết mắc cở trong lòng khi người khác cám ơn mình, lý do tại sao thì tất cả người Ki-tô hữu đều đã biết.


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện

 


92.    HUYỆN QUAN ĐỌC SAI

       Có một huyện quan không biết chữ nhiều.

       Một ngày n ngồi ở công đường tiếp dân, thư ký chuyển lên ông ta một tờ cáo trạng có tên của ba người: nguyên cáo Úc Công Lãi, bị cáo Tề Ca Tiêu và nhân chứng là Tân Phủ.

       Huyện quan nhìn tên “Úc Công Lãi” thì la lên:

-      “Tâu sang lãi !”[1]

       Ca ba người đều nghe, nên vội vàng đi đến trước công đường để nghe phát lạc. Huyện quan tức giận nói:

-      “Ta gọi nguyên cáo, sao tất cả đều lên hết vậy ?”

       Sau đó ông ta coi tên “Tề Ca Tiêu” và gọi:

-      “Tề Hạ Khứ”[2]

Cả ba người đều nghe nên vội vàng đi lui dưới công đường.

       Huyện quan càng nổi giận, nói:

-      “Kêu bị cáo, tại sao lại cùng đi xuống hết vậy chứ ?”

       Thư ký nhìn thấy tình trạng như thế nhưng không dám nói, bèn làm hòa:

-      “Tên của nguyên cáo có một cách đọc khác là Úc Công Lãi, không gọi là “tâu sang lãi”; tên của bị cáo cũng có cách đọc khác, gọi là Tề Ca Tiêu mà không đọc là “Tề hạ khứ”.

       Huyện quan hỏi:

-      “Vậy thì tên của người làm chứng, cách đọc khác như thế nào ?-

Trả lời:

-      “Tân Phủ”.

       Quan huyện nói:

-      “Ta đoán tên nó có cách đọc khác đó, nếu không thì ta kêu nó là “Thân bố” vậy.

(Hi đàm lục)

 

Suy tư 92:

       Thời xưa cũng như thời nay, có những người làm quan là nhờ tiền bạc mà mua, nhờ thần thế quen biết mà có chức quan, nhờ công lao chiến tích mà được làm quan, chứ không phải là do học hành chuyên môn khảo hạch mà được làm quan, cho nên cậy quyền cậy thế làm khổ dân chúng rất nhiều, bởi vì không biết làm cách làm quan.

       Thời nay có nhiều ông quan viết sai lỗi chính tả rất nhiều, viết một văn thư không biết bỏ dấu chấm phẩy (phết) ở đâu cho ổn nên bỏ đại ở giữa câu, thế là không ai hiểu văn thư nói gì...

       Không ai dùng tiền bạc để mua danh Ki-tô hữu, nhưng có nhiều người mượn danh Ki-tô hữu để làm chuyện xấu; có nhiều người lợi dụng danh Ki-tô hữu để làm lợi cho mình và hại người khác, bởi vì ma quỷ thì không từ một thủ đoạn nào, miễn là lôi kéo được một linh hồn theo nó thì cả hỏa ngục cũng sung sướng lắm rồi.

       Mượn danh Ki-tô hữu để làm việc bác ái cho tha nhân, thì đó là tác động của Đức Chúa Thánh Thần; mượn danh Ki-tô hữu để hại người, thì đó là hành động của ma quỷ...

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

[1] 都上來 tiếng Hoa đọc là “tâu sang lãi”, có nghĩa là tất cả đều đi lên.

[2] 齊下去tiếng Hoa đọc là “Tề xia qu”, có nghĩa là cùng đi xuống.

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện



 91.    KHÔNG DÁM DÀI DÒNG

       Người nọ viết thư, ngôn ngữ dài dòng, có người bạn khuyên anh ta:

-      “Bút pháp của lão huynh còn có thể được, nhưng mấy lời dài dòng đó bỏ đi.”

       Người nọ liền tán thành.

       Sau đó, anh ta viết thư cho người bạn ấy như sau:

-      “Lúc trước đây được ngài chỉ giáo chính xác, tôi rất cảm kích và bội phục. Từ đó đến nay, tôi tuyệt đối không dám dùng lời dài dòng rườm rà để làm phiền ngài nữa”.

       Viết thư xong, anh ta viết bên cạnh chữ “tuyệt đối” mấy hàng chú giải:

-      “Chữ “tuyệt đối” này là viết chữ chân phương phía trên không có dấu, chính là chữ “tuyệt đối” viết tắt. Đáng lẽ tôi phải viết hoa chữ “tuyệt đối” để tỏ lòng cung kính, nhưng vì chữ nhiều nét quá nên viết tắt vậy. Tóm lại, thư viết sơ sài bất kính, xin vui lòng bỏ qua, hân hạnh”.

                                       (Hi đàm lục)

 

Suy tư 91:

       Ở đời, có người viết sách hay nhưng giảng bài lại không hay, và ngược lại, có người giảng hay nhưng không biết viết sách, nhưng cũng có người viết sách hoặc giảng bài đều hay cả, thế mới biết con người ta không ai giống ai cả...

       Có một vài linh mục khi giảng thì dài dòng, có một vài giáo dân “can đảm” góp ý thì lắng nghe và hứa sẽ không giảng dài dòng nữa, nhưng h cứ lên tòa giảng thì ngài lại giảng dài dòng, cứ đem bài đọc một ra phân tích câu này như thế này, câu kia như thế nọ.v.v...hết bài đọc một rồi đến phân tích bài đọc hai, phân tích xong hai bài đọc thì đã qua hai mươi phút, rồi diễn giải câu đáp ca, cuối cùng thì đem bài Phúc Âm ra phân tích theo đúng bài bản đã học trong chủng viện thì cũng gần bốn mươi lăm phút, đến khi ngài đưa ra câu ý lực sống, thì giáo dân cặp mắt đã lờ đờ vì hôm qua thức coi đá banh, hoặc đứng ngồi không yên vì tr giờ đi làm, tr giờ đến lớp...

       Con người thời nay không thích bài giảng dài dòng, nhưng chỉ thích ngắn gọn đầy ý nghĩa và thực tế, bởi vì bài giảng trong thánh lễ không phải là một lớp thần học thánh kinh của các tu sĩ... 


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện


 

90.    HẠ MỒM NỂ NANG

       Dưới ánh trăng, một đám người ngi quanh bàn uống rượu, có tên sâu rượu nọ mỗi khi đưa thức ăn lên, người ta chưa cầm đũa thì hắn ta đã gắp mấy miếng rồi.

       Có người cố ý hỏi:

-      “Ở quê của các ông nếu gặp nguyệt thực, thì làm sao đối phó ?”

       Tên sâu rượu trả lời:

-      “Quan địa phương mặc áo quan vào, dẫn mọi người lập đàn đánh trống cho đến khi mặt trăng xuất hiện mới thôi”.

       Nói xong, thì cũng hỏi lại đối phương có phải làm như thế không, đối phương đáp:

-      “Không, chúng tôi chỉ cầu khẩn”.

       Hỏi:

-      “Phương pháp cầu khẩn như thế nào ?”

       Đáp:

-      “Mọi người chấp tay cúi đầu, cầu cứu với thiên cẩu[1]: A di đà phật, lão gia, ngài ăn cũng quá trời, xin hạ mồm nể nang, lưu lại chút xíu để mọi người xem với chứ !”

(Hi đàm lục)

 

Suy tư 90:

       Ăn nhiều, ăn ít, ăn ngồm ngoàm, ăn miệng kêu chép chép hoặc ăn nhóp nhép.v.v...thì người ta không sợ, nhưng con người ta sợ nhất là ăn hối lộ hay là ăn bẩn cũng thế thôi.

       Ăn nhiều, ăn ít thì cũng chỉ trong phạm vi cái bao tử mà thôi, nhưng ăn hối lộ thì không còn trong phạm vi của bao tử nữa, mà lây lan ảnh hưởng to lớn đến xã hội và làm hại nặng nề đến sĩ diện quốc gia dân tộc, làm hại đến thế hệ con người mai sau, và nhất là tội nghiệp cho người nghèo...

       Tham ăn thì ví như con chó nuôi trong nhà, nhưng ăn hối lộ thì ví như thiên cẩu (chó trời), bởi vì chỉ có thiên cẩu mới nut chửng mt trăng mà thôi.

       Người Ki-tô hữu biết rằng, ăn hối lộ thì phạm đến giới răn thứ bảy và thứ mười của Thiên Chúa: thứ bảy chớ lấy của người, và thứ mười chớ tham của người, mà lấy của người và tham của người chính là ăn hối lộ, mà ăn hối lộ tức là nhận đồng tiền bất chính nên cũng gọi là ăn bẩn vậy.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

[1] Theo truyền thuyết mê tín: nguyên do có nguyệt thực là măt trăng bị thiên cẩu nuốt.

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện



 89.    NAM BẮC NÓI KHOÁC

       Một người ở miền nam và một người ở miền bắc đều thích nói khoác, cả hai người đều ngưỡng mộ danh của nhau, nên không ngại đường xa vạn lý đến thăm nhau.

       Người miền nam nói:

-      “Nghe nói quê của anh rất lạnh, vậy thì lạnh đến mức độ nào ?”

       Người miền bắc cười nói:

-      “Miền bắc rất lạnh, khi đi tiểu tiện thì đem theo cái gậy, bởi vì khi tiểu tiện là đóng băng, h đóng băng thì đánh gãy nó, bng không thì người và tường sẽ đóng băng với nhau một ch. Tắm trong bồn nước, ngay cả người cũng đóng băng trong bồn”.

       Nói xong thì hỏi lại:

-      “Nghe nói quê anh rất nóng, vậy thì nóng đến cở nào ?”

       Người miền nam cười nói:

-      “Khi miền nam nóng, nếu lấy bánh mì bỏ trên tường thì lập tức chín ngay. Mùa hạ, có người đuổi heo trên phố, đi không bao xa thì thành heo luộc”.

       Người miền bắc nói:

-      “Heo biến thành như thế thì người đó làm sao chịu được ?”

       Người miền nam nói:

-      “Thì người đó đã hóa thành tro bụi trước rồi !”

(Hi đàm lục)

 

Suy tư 89:

       Nói khoác lác, nói láo trắng trợn, nói dối như thật mà vẫn có người ngưỡng mộ, thì đúng là khoác lác siêu đẳng.

       Con người ta dễ tin những điều huyền hoặc hơn tin những điều thực tế; nghe những lời nói láo hơn nghe lời nói thật, cho nên trong cuộc sống cá nhân cũng như đời sống xã hội thường xảy ra những tệ nạn, và những câu chuyện dở khóc dở cười. Bởi vì không phải ai cũng nói được lời thật, nhưng phải là người có quyết tâm và có đời sống hướng thiện luôn kết hợp với Thiên Chúa.

       Lời Chúa được “nổi tiếng” trên cả thế giới, chứ không hạn hẹp ở miền nam hay miền bắc, đó là sự thật.

       Lời của Thiên Chúa là lời chân thật, lời đem lại hạnh phúc, trường sinh và bình an, nhưng xem ra có rất ít người Ki-tô hữu nghe và thực hành Lời Chúa, bởi vì con người ta luôn nghĩ đến vật chất danh vọng, nên Lời Chúa không còn ch trong tâm hồn của họ nữa, thật đáng tiếc và đáng buồn vậy !


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện

 


88.    NHỔ LÔNG BÁCH LINH

       Người phương bắc gọi chim Bách Xà là chim Bách Linh, nó khôn khéo lanh lợi, các loại âm thanh của chim, loại nào nó cũng đều bắt chước y chang.

       Có một thầy giáo rất thích chim Bách Linh, thuê một thằng nhỏ làm công chuyên môn nuôi nó, và thường đem con chim quý đi chơi trên phố. Ngày nọ trời nóng, ông ta cho chim Bách Linh tắm, dặn dò thằng nhỏ làm công:

-      “Cẩn thận coi nó, nếu rơi một cái lông thì đánh gảy chân mày đó.”

Nói xong thì đi.

       Vợ ông ta muốn thằng đầy tớ đi làm việc, thằng đầy tớ nói:

-      “Tiểu nhân không dám bỏ đi, nếu mà chim Bách Linh rơi một cái lông, thì ông chủ sẽ đánh gảy chân tôi”.

       Lão gia rất sợ vợ, nên khi nghe đầy tớ nói thì bà đem con chim Bách Linh trong lồng ra, nhổ sạch lông và bỏ vào lại trong lồng. Lão gia trở về, nhìn thấy con chim Bách Linh không còn cái lông nào thì giận dữ nói:

-      “Đứa nào nhổ lông nó ?”

       Tên đầy tớ nhỏ không dám nói, bà vợ lên tiếng:

-      “Tôi nhổ đó, ông tính sao đây ?”

       Lão gia mặt một đống rất tức cười, nói:

-      “Nhổ rất giỏi, mát mẻ hơn cả tắm nữa !”

(Hi đàm lục)

 

Suy tư 88:

       Có những ông chồng thích làm tướng làm tá với người ngoài, về nhà thì sợ vợ như sợ cọp cái; có những ông chồng thường hay nạt nộ cấp dưới nịnh hót cấp trên, nhưng vợ trừng mắt một cái thì mặt mày...xanh lè, người ta gọi những ông chồng này là “anh hùng sợ vợ”.

       Con chim Bích Linh là loại chim quý, ông thầy giáo thích là phải, nhưng cái thích này đã bị cái hung hăng của bà vợ làm cho tê tái cõi lòng...

       Ước gì tất cả mọi người –không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng- đều có ơn kính sợ Thiên Chúa của Đức Chúa Thánh Thần, để dù họ làm tổng thống, làm chủ tịch nước, làm bộ trưởng, hoặc làm bề trên, hoặc có chức quyền trong xã hội, thì đều vì ơn kính sợ này, mà mưu ích lợi cho mọi người, kiến tạo hòa bình cho thế giới, đem bình an cho các thành viên trong cộng đoàn, trở thành mẫu mực cho mọi người...

       Mà người Ki-tô hữu thì luôn có ơn Kính Sợ Thiên Chúa này từ khi lãnh nhận bí tích Thêm Sức.


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)