Thứ Hai, 16 tháng 2, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện



 18. KHẤU NỢ QUÀ TẶNG

Có người tặng quà cho bạn bè, trên gói quà ghi rõ:

- “Bốn gói quà nhỏ”, phía dưới viết một hàng chữ nhỏ: 

“Bây giờ tặng hai gói, thiếu nợ hai gói.”

Thì ra là anh ta chỉ tặng hai gói.

Qua ngày hôm sau, người bạn cũng đem quà tặng cho anh 

ta, phía trên cũng viết là “bốn gói quà nhỏ”, phía dưới cũng 

viết một hàng chữ nhỏ:

- “Khấu trừ lần trước anh nợ tôi hai gói, bây giờ lại thiếu 

nợ anh hai gói”.

Thì ra là anh ta không tặng gói quà nào cả…

(Tiếu Đảo)


Suy tư 18:

Quà tặng có nhiều loại: quà sinh nhật, quà thôi nôi, quà tân 

gia, quà cưới, quà khai trương, quà kỷ niệm thăng quan tiến 

chức.v.v...Nhưng có một loại quà mà ai cũng sợ xanh mặt khi 

nhắc đến, đó là quà hối lộ, không có là không được.

Gọi là quà nợ vì chỉ có một chủ nợ và nhiều con nợ, tức là 

chỉ có một người nhận và nhiều người tặng, món quà nợ này 

người nhận thì hả hê còn người tặng thì nghiến răng bực tức, 

chửi rủa, mạt sát vì tiếc tiền.

Ở đời ai cũng mắc nợ nhau, đó là nợ ân tình, nợ yêu thương, 

cho nên, trong cuộc sống cần phải đem tình thương để tặng cho nhau, đó là món quà đẹp nhất mà con người ta có thể trao tặng 

cho nhau trong xã hội có lắm người mắc quà nợ...

Người Ki-tô hữu cũng không ngoài lệ đó, cũng mắc nợ

người khác một nụ cười, một cái bắt tay, một lời an ủi, một cử

chỉ thân thiện... cho nên càng phải thực hành đức ái nhiều hơn 

nữa để trả nợ yêu thương ấy.


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư ) 


Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện



 17. MỐI ĂN CỘT NHÀ

Trong phòng khách còn có khách ngồi, nhưng chủ nhà lại 

lo cho mình nên chuồn vào trong ăn cơm.

Khách ở bên ngoài lớn tiếng nói:

- “Đáng tiếc, đáng tiếc, cái phòng khách đẹp vậy mà các 

cột trụ đều để mối ăn nát”.

Chủ nhân nghe được, vội vàng chạy ra hỏi:

- “Ở đâu ?”

Khách trả lời: 

- “Con mối ăn ở bên trong, bên ngoài làm sao biết được ?”

(Tiếu Đảo)


Suy tư 17:

Có những cột nhà chạm trổ rất đẹp nhưng bị mối mọt ăn 

bên trong mà không ai biết, nên nhà sập lúc nào không hay; có 

những cái ghế xem ra chắc chắn, nhưng khi ngồi lên thì sụm ba 

chè, vì bị mối mọt ăn bên trong không ai biết.

Có những người vẻ bên ngoài thì đạo mạo, nhưng bên trong 

thì đầy mưu mô xảo quyệt; có những người bên ngoài nói cười 

xởi lởi, nhưng bên trong thì nhỏ nhen ích kỷ; có những người 

bên ngoài thì anh anh em em ngọt xớt, nhưng bên trong thì 

không ưa nhau chút nào. Đó là những mối mọt của tâm hồn.

Thời nay dù cho mối mọt ăn chỗ nào bên trong cây cột nhà, 

thì người ta vẫn có thể dùng máy móc kỹ thuật để biết nó và 

diệt nó; nhưng thời nay dù cho khoa học phát triển đến sao hỏa sao kim, thì người ta cũng không thể dò biết tấm lòng ích kỷ, 

mưu mô, ghen ghét.v.v...của con người nó sâu rộng bao nhiêu

để đề phòng và chữa trị !

Người Ki-tô hữu có một cách để chữa mối mọt tâm hồn, đó 

là luôn xét mình mỗi ngày dưới ánh sáng Lời Chúa.


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư ) 


Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2026

Chúa nhật 6 thường niên

 


CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN


Tin mừng : Mt 5, 20-22a.27-28.33-34a.37

“Anh em đã nghe luật dạy người xưa. Còn Thầy, Thầy bảo cho
anh em biết.

Anh chị em thân mến,
Đã có nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta khen ngợi các linh
mục là những người tài giỏi đáng để chúng ta học hỏi, nhưng
Đức Chúa Giê-su lại bảo cho chúng ta biết, nếu chúng ta không
ăn ở công chính hơn những người kinh sư và biệt phái thì sẽ
chẳng được vào Nước Trời.

1. Công chính thì khác với tài giỏi.
Có những linh mục rất tài giỏi đa năng, vừa viết nhạc vừa
hát hay lại vừa làm diễn viên thu hình, những tài hoa này không
làm cho những linh mục ấy trở nên người công chính, những tài
hoa này không làm cho các ngài được vào Nước Trời, nếu các
ngài không có đời sống kết hợp sâu xa với Thiên Chúa, không
làm tròn bổn phận mục tử của mình, thì tài năng chỉ thêm gây
phiền phức cho đời sống nội tâm của các ngài mà thôi, bởi vì
chính đời sống nội tâm của người linh mục mới làm cho họ trở
nên người công chính trước mặt người đời và trước mặt Thiên Chúa. Chính những người Pha ri siêu đã bị Đức Chúa Giê-su


khiển trách vì trở nên cớ vấp phạm cho người khác, khi chính họ đã trở nên cớ vấp ngã cho người khác.


Người công chính là người tuân giữ lề luật của Thiên Chúa,
là người biết chu toàn bổn phận của mình cách trọn hảo dù cho
tài năng của mình xuất chúng, nhưng không vì tài năng, không
vì tiếng khen ngợi của mọi người mà quên đi bổn phận mục tử
của mình. Tài hoa là phương tiện giúp cho mục đích của đời mục
tử, chứ không phải tài hoa là mục đích của đời sống linh mục.

2. Luật cũ và luật mới chỉ khác nhau chữ Tâm.
Các kinh sư và những người Pha-ri-siêu cũng biết giữ lề luật
của Môi-sê, nhưng họ không dùng cái tâm để giữ và thực hành,
họ chỉ dùng cái vẻ đạo mạo bên ngoài để làm cho người khác
phải ca ngợi mình với áo thụng dây tua, với cung cách bệ vệ mà
thôi, cho nên họ không không thể dẫn dắt người khác vào Nước
Trời.
Thời nay có những mục tử cũng biết giữ luật Chúa như những
kinh sư và người Pha-ri-siêu, tức là họ không dùng cái tâm để
giữ, mà chỉ dùng cái mã tốt tướng đạo mạo bên ngoài để giữ,
những mục tử này thì rất dễ thấy trong xã hội ngày nay, đó là:
- Khi các ngài đứng trên tòa giảng để răn đe giáo dân đừng
uống rượu, nhưng lễ xong thì các ngài uống rượu nhiều gấp mấy
giáo dân, các mục tử này chỉ nói cho sướng miệng chứ không
nói bằng cái tâm.
- Khi các ngài đứng trên tòa giảng nói về sự công bằng bác ái nhưng chính các ngài lại cho giáo dân vay tiền lấy lãi nặng hơn
cả các chủ nợ khác. Các mục tử này chỉ nói cho sướng miệng
chứ các ngài không thực hành bằng cái tâm.
- Khi các ngài đứng trên tòa giảng dạy giáo dân phải thảo kính
cha mẹ, kính trên nhường dưới, nhưng chính các ngài ăn nói thô
lỗ cộc cằn, ngạo mạn với các đấng bậc lớn tuổi hơn mình. Các
mục tử này chỉ nói cho sướng cái miệng chứ các ngài không hề
dùng cái tâm để giảng dạy.
Anh chị em thân mến,
Các kinh sư và những người Pha-ri-siêu đã bị Đức Chúa Giêsu nhiều lần khiển trách, không phải vì Ngài ghét họ, nhưng vì
Ngài muốn cho họ trở nên những bậc thầy thánh thiện gương
mẫu, và bởi vì chính họ mỗi khi làm gương xấu thì ảnh hưởng
to lớn và tai hại vô cùng cho dân Ngài.
Sự công chính được phát xuất từ một tâm hồn biết yêu
thương thật sự, chứ không phải phát xuất từ tài năng, thông luật
hay giỏi Thánh kinh. Bởi vì nếu không yêu thương thật sự, thì
tất cả chỉ là hình thức giả tạo đáng ghét bên ngoài mà thôi.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
--------------------------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info

Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện




16. GHẾ ĐẨU TẾ THẦN

Hai anh em, anh thì giàu có, em thì nghèo.

Em hỏi anh:

- “Anh làm thế nào mà giàu như thế ?”

Anh trả lời:

- “Anh thường dùng lợn dê để tế thần thổ địa, cho nên 

mới có hôm nay đó !”

Người em bèn đem lời của người anh nói với vợ, vợ

nói:

- “Trong nhà có hai cái ghế đẩu, cũng là tám cái chân, 

có thể đem làm lợn dê cúng thần thổ địa”.

Người em cho rằng rất đúng, bèn vác ghế đẩu đi về

phía thần thổ địa thành kính tế lễ. Thần thổ địa giận dữ, 

mắng:

- “Ghế đẩu làm sao ăn được ?”

Vợ thổ địa đi ra dàn hòa:

- “Được rồi, được rồi, ai ăn không được thì bỏ đây ngồi 

cũng tốt vậy !”

(Tiếu Đảo)


Suy tu 16:

Đã nghèo mà đem ghế đẩu cúng cho thổ địa thì nghèo thêm, 

bởi vì thổ địa sẽ tức tối vì ăn không được cái ghế đẩu nên phạt 

nghèo luôn, và trong nhà chỉ có hai cái ghế đẩu, bây giờ cúng cho thổ địa thì càng nghèo thêm., đúng là dại.

Cũng có một vài người Ki-tô hữu coi Thiên Chúa như là 

ông thổ địa: cúng cho nhà thờ vài trăm ngàn để xin Chúa cho 

trúng số độc đắc; giúp cho trại cùi vài triệu đồng kẻo sợ Chúa 

giận lấy lại tiền bạc chức tước cho người khác. Thiên Chúa 

không phải là ông thổ địa, nhưng là Cha chúng ta ở trên trời, 

Ngài không muốn chúng ta đem vật chất ra để đổi chác với 

Ngài, nhưng Ngài muốn chúng ta đem hết tâm hồn, hết trí khôn 

và hết sức lực mình để phụng thờ Ngài, rồi mọi sự Thiên Chúa 

sẽ ban cho sau.

Khi cầu nguyện thì có một điều phải xin, đó là xin Chúa gia 

tăng thêm đức tin cho mình, bởi vì khi đức tin mạnh rồi, thì 

mọi việc sẽ không còn khó, và giàu nghèo sẽ không thành vấn 

đề nữa...


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư ) 


Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện




15. NGƯỜI KHÓC MƯỚN

Có một người chuyên môn đến các nhà tang khóc mướn để

được có cơm rượu ăn phủ phê.

Một hôm, nhà nọ có tang, các việc tang đã kết thúc mà 

người ấy chưa kịp tới, anh ta bèn đau khổ khóc thét lên, mọi 

người kinh ngạc hỏi tại sao như vậy, anh ta nói trong tiếng 

khóc:

- “Người chết ạ, xác hồn của anh hôm nay ra khỏi nhà để

xác hồn của tôi ở đây, làm sao bây giờ ?”

(Tiếu Đảo)


Suy tư 15:

Nước mắt của người khóc mướn thì không mặn vì đó 

không phải là tình cảm mặn nồng của tình cảm, mà là giả dối; 

tiếng khóc của người khóc mướn không lột tả được tình cảm 

thân thiết với người qua đời, nó chỉ là giả dối...

Người khóc mướn cũng rơi nước mắt, cũng kể lể bi ai 

thống thiết và có khi khóc lớn hơn cả bà con ruột thịt của người 

chết, nhưng không làm ai động lòng cả.

Có một vài người Ki-tô hữu giữ đạo giống như người khóc 

mướn, họ cũng khuyên bảo người ta đi đàng lành lánh dữ, 

nhưng không làm cho người ta động lòng, vì họ sống không 

như lời họ khuyên; họ cũng đem tiền bố thí cho một vài người 

nghèo nhưng chẳng có ai cảm động cả, vì họ khoe của và thực 

hành bác ái giả dối; họ vẫn đi lễ đọc kinh nhưng không ai khen 

ngợi họ cả, vì người ta không thấy họ thay đổi cuộc sống luồn 

lách lươn lẹo dối trá của mình...

Nước mắt của khóc mướn là giả dối, làm việc bác ái mà 

không có cái tâm yêu thương là giả hình, cả hai đều đều giống 

nhau một điểm: lừa đảo.


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư ) 


Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện



 14. SÁCH QUÁ THẤP

Có một tú tài thuê phòng ngủ trong chùa để đọc sách, 

nhưng ngày ngày chỉ biết du ngoạn mà thôi.

Một lần nọ, anh ta đi chơi đến trưa mới về, kêu réo tiểu 

đồng đem sách đến để đọc, tiểu đồng đem đến một bộ “văn 

tuyển”, tú tại nhìn thì nói: “Thấp”.

Tiểu đồng lại đem đến bộ “Hán thư”, tú tài nhìn thì lại nói: 

“Thấp”. Tiểu đồng lại bê đến một bộ “sử ký”, tú tài vẫn nói: 

“Thấp”.

Hòa thượng rất kinh ngạc hỏi: 

- “Ba bộ sách này, chỉ cần chú ý đọc một trong ba bộ thôi, 

thì cũng có thể gọi là tri thức uyên bác rồi, tại sao ông vẫn còn 

nói quá thấp ?”

Tú tài trả lời:

- “Tôi lấy sách để làm gối kê ngủ, cho nên cảm thấy mấy 

quyển sách đó quá thấp”.

(Tiếu Đảo)


Suy tư 14:

Có những người kê đầu trên sách nhưng lại không biết một 

chữ trong sách, đó là những người không được đi học; có 

những học trò kê đầu trên sách nhưng lại không thuộc những 

chữ trong sách, đó là những học trò lười; có những người Ki-tô 

hữu mua sách Kinh Thánh thật đắt tiền, rồi để trang trọng trên 

bàn thờ bên cạnh tượng Chúa, nhưng một năm mười hai tháng 

không thấy mở sách ra đọc, đó là những người Ki-tô hữu giữ đạo bên ngoài.

“Văn tuyển”, “Hán thư” và “Sử ký” là ba bộ sách quý thời 

xưa của người Trung Quốc, chỉ cần đọc một trong ba bộ sách là 

có tri thức uyên bác, đó là niềm tự hào của kẻ sĩ. 

Niềm tự hào của người Ki-tô hữu là quyển Kinh Thánh, 

nhưng hỏi có mấy ai thích đọc và suy gẫm những lời hằng sống 

trong quyển Kinh Thánh ấy ?


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư ) 


Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện

 


13. TRỜI CÓ CÔNG BẰNG

Một lần nọ, trung lang họ Viên và khách cùng họp nhau lại, 

nói đến việc con cái trong nhà có bệnh mời lang băm đến chữa 

không khỏi.

Khách nói:

- “Tôi thường nghĩ rằng, trong thôn có người nọ có thể

chữa bệnh con nít, nhưng không có cháu chắt nên đoạn hậu; 

còn tên lang băm nọ thường chữa bệnh cho con nít không khỏi, 

thì lại nhiều con nhiều cháu, công bằng của ông trời ở đâu ?”

Họ Viên lên tiếng nói tiếp:

- “Ai nói không công bằng chứ, nó còn tốt hơn chuyện 

trước đây mọi người rầm rộ đi ủy lạo quân đội của Miên Khải 

Tuyền trở về, đối với bất cứ quan binh nào giết được nhiều 

người thì họ đều được ca tụng là công đức to lớn”.

(Tiếu Đảo)


Suy tư 13:

Người nghèo bị áp bức quá thì trách ông Trời không công 

bằng, người bị oan được báo oan thì nói ông Trời có con mắt, 

người quyền thế hách dịch thì nói ông Trời làm gì có mắt.v.v...

Người tốt mà gặp bất hạnh hoặc người xấu mà gặp may 

mắn là chuyện thường tình trong cuộc sống, nhưng hoan hô 

tâng bốc một đội binh khát máu giết càng nhiều người dân mà 

không bảo vệ người dân và tổ quốc, càng được ca tụng thì là chuyện bất thường, không công đạo. Cho nên người Ki-tô hữu 

tin rằng: Thiên Chúa biết hết mọi sự, dù trong tâm tư, dù nơi 

đen tối thì Người vẫn thấy.

Thiên Chúa sẽ “không thấy” khi ta sống quang minh chính 

đại; nhưng Thiên Chúa sẽ thấy khi chúng ta sống không công 

bằng, ngược đãi tha nhân; Thiên Chúa sẽ “quên” khi chúng ta 

biết hối lỗi ăn năn và cải thiện cuộc sống của mình, bởi ví 

Thiên Chúa là Đấng rất công bằng nhưng giàu lòng thương 

xót...

Ai áp bức, ngược đãi, đối xử bất công với người khác thì 

hãy coi chừng, vì Trời có con mắt nhìn thấy bên trong tâm hồn 

lẫn bên ngoài của con người, nhìn thấy nơi ánh sáng và trong 

bóng tối, thấy rõ trên trời và thấu suốt chín tầng địa ngục...


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư ) 



Thứ Hai, 9 tháng 2, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện



 12. ĐỀU Ở ĐÂY

Tống Thái tổ Triệu Khuông Dẫn triệu tập các võ tướng đến 

họp, xét hỏi quân số của các thống lĩnh quân đội. Các võ tướng 

biết chữ thì đem tất cả các số mục viết trên cái hốt (1)

và đưa cái 

hốt cao lên, để hoàng đế xét duyệt.

Có một võ tướng không biết chữ, và không biết trên cái hốt 

của người khác có chữ, thế là cũng bắt chước như vậy vẽ và cái 

hồ lô trên cái hốt và đưa cao trên trán của mình sán đến gần

hoàng đế lớn tiếng nói:

- “Bẩm cáo bệ hạ, số mục của quân đội đều ở đây”.

(Tiếu Đảo)


Suy tư 12:

Ngày xưa, có khi làm tướng mà không biết chữ bởi vì họ

chỉ chuyên về võ nghệ, và tướng thì phải xông pha trận mạc, 

nên họ cũng không chú trọng đến chữ nghĩa cho lắm, cho nên 

mới có chuyện: tất cả các số mục quân đội đều ở cả trong cái 

hồ lô rượu.

Làm việc tông đồ trong thời đại ngày nay không phải chỉ

thuộc lòng kinh bổn là đủ, nhưng còn phải suy tư kinh mình 

đọc và thực hành Lời Chúa mà mình đã nghe, bằng không thì 

đời sống đạo của mình cũng chỉ nằm trong... cái hồ lô rượu như  ông quan võ mà thôi.

Có những người Ki-tô hữu “ỷ” mình là đạo gốc, thuộc rất 

nhiều kinh, nên khi thấy người khác ít thuộc kinh bổn nhưng 

cầu nguyện nhiều, thì thắc mắc chê bai: đạo gì mà không biết 

ngắm đứng ngắm quỳ mùa thương khó !? Thế là họ sán tới gần 

cha sở nói:

- “Thưa cha, ngắm đứng ngắm quỳ thì đều ở đây cả, ngay 

trong bụng của con đây, đừng để ông X...bà Z...ngắm, dở

lắm ?”


(1) Tấm bảng của các quan ngày xưa khi gặp hoàng đế, cầm trên tay để viết 

các việc trình tấu.


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư ) 


Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện



 11. HÔI MÙI THỊT NGƯỜI

Đêm đông, một lão phú ông sau khi uống rượu say thì ngủ, 

đem cái lò sưởi chân bỏ vào trong chăn, không ngờ nửa đêm lò 

sưởi phát hỏa, đốt cháy chân của ông ta.

Sáng sớm hôm sau, lão phú ông đau quá tỉnh dậy, bèn chửi 

đứa cháu:

- “Già lão như ta uống nhiều rượu mà không biết lửa đốt 

cháy chân, nhưng tụi mày là lũ hậu sinh lẽ nào không ngửi 

thấy hôi mùi thịt người, lỗ mũi tụi bây nghẹt cả rồi à ?”

(Tiếu Đảo)


Suy tư 11:

Có những lúc trong gia đình người lớn ỷ vào quyền làm cha 

mẹ, quyền làm anh chị, quyền vai vế chú bác để la mắng các 

em nhỏ cách bất công; có những lúc trong Giáo Hội hoặc ngoài 

xã hội người lớn ỷ làm linh mục, làm bà sơ, ỷ mình làm ông 

quan này bà trùm nọ để trách mắng cách vô lý người dưới, đó 

là chuyện bất công và làm cho họ không phục người lớn.

Thiên Chúa đặt để một trật tự tự nhiên là: cha mẹ con cái, 

người trên kẻ dưới. Để ai làm bề trên, làm người lớn, thì có 

phận dạy dỗ con em mình và người cấp dưới, nhưng dạy dỗ

theo tinh thần Phúc Âm của Đức Chúa Giê-su, tức là lấy chữ

yêu thương làm trọng tâm để sửa đổi, dạy bảo, chúc lành và 

quan tâm, chứ không dạy bảo sửa đổi theo tính ích kỷ và hách dịch của mình...

Thanh thiếu niên rất phục các vị anh hùng và thần tượng 

hóa các bậc vĩ nhân, nhưng chúng nó vừa cảm phục vừa yêu 

mến những người lớn biết khiêm tốn nhận mình sai và biết sửa 

sai.

“Thượng bất chính, hạ tắc loạn” là tại vì người lớn dùng uy 

quyền của mình không đúng chỗ vậy...


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư ) 

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026

Chúa nhật 5 thường niên

 


CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN

Tin mừng : Mt 5, 13-16.

“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian”.


Anh chị em thân mến,

Người Ki-tô hữu được gọi là ánh sáng cho đời và là muối 

ướp đời, bởi vì chính những người Ki-tô hữu –qua bí tích Rửa 

Tội- đã trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Chúa Giê-su, đó 

là cùng chết cho tội lỗi và cùng sống lại với Ngài.

Đốt đèn lên thì đặt trên cao để soi sáng cho cả nhà, và nhờ

có ánh sáng mà người ta mới nhìn thấy mọi sự để hoàn tất công 

việc mình đang làm, cũng như mới có thể thấy đường mà đi, đó 

là một sự thật mà ai cũng biết.


1. Ánh sáng chính là hành động bác ái.

Người Ki-tô hữu là ánh sáng cho đời khi chúng ta biết hành 

động theo lương tâm, và hết lòng yêu mến tha nhân trong cuộc 

sống của mình, chúng ta không đốt đèn rồi đội trên đầu để chiếu 

sáng mọi người, nhưng chúng ta thắp đèn bằng lửa yêu mến của 

Đức Chúa Giê-su ở trong lòng chúng ta, rồi từ tấm lòng nhân 

hậu ấy mà mọi hành động và thái độ của chúng ta khi tiếp xúc 

trò chuyện với tha nhân, chính là ngọn đèn sáng chiếu soi cho mọi người thấy rõ Thiên Chúa đang hiện diện trong cuộc đời.

Có nhiều loại ánh sáng: ánh sáng mặt trăng, ánh sáng mặt 

trời và ánh sáng của các vì sao; có loại ánh sáng bằng đèn điện 

cũng như có loại ánh sáng bằng đèn dầu, nhưng tất cả những loại 

ánh sáng ấy được sáng lên theo thời theo gian của ban ngày hoặc

ban đêm. Nhưng ánh sáng phát xuất từ tâm hồn của người Ki-tô 

hữu thì không phân biệt ngày đêm, giàu nghèo, thời tiết lạnh 

nóng.v.v... bất kỳ ở đâu và lúc nào, thì người Ki-tô hữu cũng có 

thể chiếu sáng tinh thần Phúc Âm cho mọi người thấy, để qua 

ánh sáng là việc làm bác ái cụ thể ấy, mà người ta nhận ra được 

khuôn mặt của Thiên Chúa cũng như tình yêu của Ngài trên con 

người chúng ta...


2. Muối là bảo quản và chữa thương.

Muối cũng vậy, rất cần thiết cho thân thể của con người,

cũng như rất cần thiết cho việc bảo quản thịt cá tươi, bởi vì nó 

mặn.

Người Ki-tô hữu chúng ta không chỉ là muối ướp cho tình 

cảm giữa người với nhau thêm mặn nồng, nhưng còn có bổn 

phận bảo quản gìn giữ những tình cảm ấy ngày càng gắn chặt 

hơn, bởi vì sẽ không có gì bảo đảm cho một tình cảm, nếu không 

có sự chân thành và sự tin tưởng vào tình yêu của Thiên Chúa.

Muối thì rất mặn, và vì mặn nên mới có thể giữ cho thịt cá 

được tươi, cuộc sống của người Ki-tô hữu vốn là bác ái và phục 

vụ, tức là muối mặn vừa giữ cho tình cảm giữa người với nhau được đầm ấm, vừa là rửa sạch vết thương lòng của tha nhân khi họ bị người khác hiểu lầm, vu cáo, hãm hại. Là mẫu gương làm 

cho người tội lỗi phải xét lại đời sống phóng túng của mình, bởi 

vì đời sống yêu thương và phục vụ của người Ki-tô hữu chính là

muối xát mạnh rát tận tâm hồn của họ.

Anh chị em thân mến,

Ở đời, ai cũng mong được làm lãnh đạo chỉ huy người khác,

nhưng ít người muốn trở thành ánh sáng và muối cho tha nhân, 

bởi vì ai cũng thích ánh sáng nhưng không thích làm ánh sáng, 

ai cũng thích ăn thịt cá tươi ngon nhưng không ai muốn làm muối 

ướp đời...

Chúng ta là Ki-tô hữu, nghe theo lời của Đức Chúa Giê-su

dạy bảo, chúng ta phải trở nên ánh sáng cho đời và nên muối 

mặn ướp tình tha nhân, bằng chính cuộc sống bác ái, hy sinh và 

phục vụ của chúng ta.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta.


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện

 


10. BẢNG HIỆU BIẾN BIẾN

Có một ông chủ mở cửa hàng cầm đồ, tiền vốn rất ít.

Khai trương được một tháng đầu, trên bảng hiệu viết một 

chữ “cầm”, qua tháng thứ hai, tiền vốn hết sạch, khách cầm đồ

lại không đến chuộc đồ đã cầm về, chỉ có cách là viết thêm chữ

“ngưng” trước chữ “cầm”.

Qua tháng thứ ba, khách đến chuộc đồ từ từ nhiều lại, tiền 

vốn thu lại đủ, ông chủ lại viết thêm chữ “không” trước chữ

“ngưng cầm”.

(Tiếu Đảo)


Suy tư 10:

Trong làm ăn buôn bán thì phải có kiên nhẫn, khi mở một 

hàng ăn uống hay một cửa hiệu thì cần phải...chịu lỗ trong một 

hoặc hai tháng đầu, và để cho người ta quen biết với cửa hàng 

của mình.

Đi làm việc truyền giáo cũng như...đi buôn, nhưng nguy 

hiểm hơn nhiều, bởi vì khi lời thì chỉ có lời linh hồn người ta, 

nhưng khi lỗ thì lỗ nhiều lắm, như: lỗ mất mạng sống mình, lỗ

tiền bạc vật chất bỏ ra, lỗ mất các linh hồn, và có khi mất tất cả, 

sạch sành sanh cùng một lúc. Cho nên làm người truyền giáo 

thì phải kiên nhẫn trong mọi hoàn cảnh, phải chịu lỗ

trong...mấy năm đầu, để mọi người nhìn thấy cách ăn nết ở của 

mình có thực sự là như mình đã rao giảng không, có như thế họ

mới tin Đấng mà mình đang rao giảng và yêu mến là Đức Chúa Giê-su Ki-tô.

Cái bảng hiệu quan trọng lắm, không nên hôm nay viết chữ

này mai thêm chữ khác, nhưng phải cố định.

Làm việc truyền giáo thì quan trọng hơn nhiều, đừng nói 

một đường mà làm một nẻo, đừng sống khác với những gì mà 

mình đã rao giảng, đừng nói nhiều làm ít, bởi vì con người thời 

nay thích nhìn hơn là thích nghe đối với những người truyền giáo. 


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư ) 

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện

 


9. KHAI MÔN THẤT SỰ

Vợ rất nghiện rượu, nhiều lần muốn rượu uống nhưng 

chồng không cho uống, lại còn trách vợ:

- “Trong nhà mở cửa hàng thì có bảy việc là: củi, gạo, dầu, 

muối, tương, giấm, trà, làm gì thấy có “rượu” hử ?”

Vợ nói:

- “Rượu trước khi mở cửa thì đã dùng rồi, nên phải mua 

trước cách một đêm”.

(Tiếu đảo)

Suy tư 9:

Mở cửa hàng bán tạp hóa tối thiểu là phải có bảy món hàng 

căn bản này là: củi, gạo, dầu, muối, tương, giấm và trà, bởi vì 

tất cả đều rất cần thiết cho đời sống bình thường, ít nữa là ở

nông thôn.

Làm người Ki-tô hữu thì ít nữa phải chịu các phép bí tích 

này: Rửa Tội, Thánh Thể và Thêm Sức, bởi vì đây là ba bí tích 

nhập đạo rất cần thiết của người Ki-tô hữu, sau đó sẽ tùy theo 

nhu cầu thiêng liêng của mỗi người mà lãnh nhận các bí tích 

khác như Giải Tội, Xức Dầu Thánh, Hôn Phối và Truyền Chức 

Thánh. Tất cả đều được Chúa Giê-su chuẩn bị rất chu đáo để

chúng ta được ơn cứu độ trong Giáo Hội của Ngài.

ó một vài người Ki-tô hữu trách cha mẹ tại sao phải Rửa 

Tội cho mình khi mới sinh ra; có vài người Ki-tô hữu ra mặt chống đối cự tuyệt lãnh nhận bí tích Giải Tội và Thánh Thể, họ

cho rằng chẳng ích lợi gì cả; lại có người Ki-tô hữu tự cho 

mình có thể nên thánh mà không cần lãnh các bí tích của Đức 

Chúa Giê-su...

Xưa nay chưa có bệnh nhân nào không ăn uống hoặc từ

chối bác sĩ chữa bệnh, không uống thuốc, không truyền sức mà 

sống cả nếu không có phép lạ, mà phép lạ thì không hề xảy ra 

cho những người kiêu ngạo, cố chấp...

Kiêu ngạo và cố chấp là thứ rượu không nên có, và cũng 

không nên uống trong cuộc sống của người Ki-tô hữu.


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư ) 

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện



 8. QUỶ QUAN ĐÒI TIỀN

Có một người trở về cố hương, phải đi qua ngõ Sơn Đông, 

gặp lúc có nạn đói, người nghèo đói chết rất nhiều, ngay cả lữ

điếm cũng đóng cửa, nên anh ta chỉ biết vào trong chùa ngủ nơi 

đại điện, đột nhiên thấy phía bên đông để tám quan tài, bên tây 

chỉ để một quan tài.

Nửa đêm canh ba, nhìn thấy các quan tài đều có cánh tay 

đưa ra, cánh tay nào cũng vàng và xương xẩu, chỉ có tay quan 

tài ở phía tây đưa ra là trắng và mập.

Khách nhân gan dạ nhìn trái nhìn phải rồi cười nói:

- “Tụi mày là lũ quỷ nghèo xin ta tiền phải không ?

èn mở bao tiền ra, lấy một đồng tiền lớn thảy vào, mấy 

quỷ nghèo ở phía đông thì rút tay vào trong quan tài, chỉ có quỷ

phía tây là vẫn cứ đưa tay ra. Khách nhân nói:

- “Một đồng tiền không đủ à ?

Nói xong thì lấy ra một trăm đồng, cái tay ấy vẫn không 

nhúc nhích. Khách nhân nổi giận nói:

- “Mày là con quỷ nghèo có lòng tham vô đáy !”

Bèn lấy hai đồng tiền lớn bỏ vào trong bàn tay của người ấy, 

con quỷ ấy bèn rút tay vào trong quan tài. Khách nhân quá kinh 

ngạc, bèn đốt lửa lên soi chung quanh, té ra là quan tài phía 

đông có viết mấy chữ: nhân dân đói kém, tên...; và cái quan tài 

duy nhất bên tây viết: huyện..., Điển Sứ (biệt hiêu quan phủ) quách của công...”.

(Hy đàm tục lục)

Suy tư 8:

Có một thầy đại chủng sinh nọ kể rằng: ban đêm thầy ngủ

thì mùng mền tự nhiên treo lên trần nhà, một đêm khác thầy 

nằm trên giường thì như có ai kéo chân thầy, mới đầu thầy sợ

hãi và đọc kinh cầu nguyện, qua đêm thứ hai cũng như vậy, 

thầy sực nhớ chắc là các đẳng linh hồn trong luyện ngục muốn 

mình cầu nguyện cho họ, thế là thầy cầu nguyện cho các linh 

hồn mồ côi, quả nhiên không còn tình trạng “phá phách” ấy 

nữa.

Khi còn giúp xứ ở một họ đạo tại Sài gòn, tối nào tôi cũng

quỳ sát bên chỗ để hài cốt trong nhà thờ để đọc kinh tối, cầu 

nguyện. Tối nào cũng vậy, tôi nghe tiếng lốc cốc lốc nơi chỗ để

hài cốt, mới đầu không để ý vì tưởng là mấy con chuột chạy, 

nhưng sau nhiều lần thì để ý và đứng dậy đi kiễm tra các hủ hài 

cốt, nhưng khi đứng dậy thì không thấy không nghe gì cả, tôi 

tiếp tục đọc kinh thì lại nghe tiếng lốc cốc phát ra nơi hủ hài 

cốt, tôi kê sát tai vào hài cốt thì không nghe gì, nhưng khi rời 

tai khỏi hủ hài cốt thì nghe tiếng lốc cốc, tôi biết đó là các linh 

hồn nhắc nhở mình cầu nguyện cho họ, thế là tôi cầu nguyện 

cho các linh hồn mồ côi và các linh hồn đã qua đời trong giáo 

xứ, thế là từ đó không nghe tiếng lốc cốc nữa...

Các linh hồn trong luyện ngục không cần tiền bạc, không 

cần ăn uống, không cần vật chất, nhưng các ngài cần đến lời 

cầu nguyện của chúng ta, bởi vì có nhiều linh hồn không ai nhớ

để cầu nguyện cho họ cả, các giáo hữu gọi đó là các linh hồn 

mồ côi.

Làm người Ki-tô hữu sung sướng thật, được rất nhiều lời 

cầu nguyện của mọi người sau khi qua đời, đó chính là tín điều 

các thánh thông công mà Giáo Hội dạy chúng ta vậy.


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư ) 


Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện

 


7. BÁNH BAO THỊT LỚN

Một đôi kết bái làm anh em rất thích nói dối.

Anh kết nghĩa nói với em kết nghĩa:

- “Hôm qua, anh ăn một cái bánh hấp, e rằng trên thế giới 

không có cái bánh nào lớn như thế: dùng một trăm cân bột mì, 

tám mươi cân thịt và hai mươi cân rau để làm nhân, phải ghép

đến tám cái bàn vuông sắp lại mới có thể để nó trên được. Hơn 

hai mươi người đứng chung quang để ăn, ăn một ngày một đêm 

mà không hết một nửa. Khi đang vui vẻ ăn thì mất đi hai người, 

tìm hoài tìm mãi mà không thấy, đột nhên nghe trong cái bánh 

hấp có tiếng nói, mở lá ra coi, hê hê, thì ra hai người ấy chui 

vào trong cái bánh để ăn nhân thịt, em coi cái bánh có lớn 

không ?”

Em kết nghĩa nói:

- “Hôm qua em ăn bánh bao thịt mới gọi là lớn, mười mấy 

người ăn ba ngày ba đêm mà cũng chưa thấy nhân thịt, triều 

đình bắt ăn cho nhanh, không ngờ đang ăn thì một cái bảng đá 

bày ra, trên bảng viết: “Cách nhân thịt còn ba cây số nữa”.. 

Anh coi nó có lớn không ?”

Anh kết nghĩa hỏi:

- “Cái bánh bao thịt của em lớn như thế thì lấy gì mà 

nấu ?”

Em kết nghĩa đáp:

- “Thì dùng cái nồi nấu bánh hấp của anh đó để nấu !”

(Hi đàm tục lục)


Suy tư 7:

Thời xưa dùng một trăm cân bột để làm một cái bánh thì là 

quá vĩ đại rồi, dù đó là...cái bánh nói khoác, nhưng thời nay 

người ta còn làm những cái bánh chưng bánh tét vĩ đại gấp 

trăm lần, họ dùng đến cả ngàn cân gạo nếp, ngàn ký thịt heo, 

để làm cái bánh thật lớn cho nổi tiếng, để được ghi vào quyển 

sách kỷ lục thế giới.

Nếu họ đem một ngàn cân gạo nếp và một ngàn ký thịt ấy 

phân phát cho người nghèo neo đơn, thì trong ba ngày tết có 

thêm những nụ cười tươi; nếu họ đem chừng ấy thịt và gạo 

phân phát cho những người vô gia cư, thì mùa xuân hoa sẽ nở

trên những nẽo đường phố...

Ham danh, ham nổi tiếng là bệnh của con người, nhưng 

người Ki-tô hữu thì biết rằng: danh lợi, quyền uy, tiền tài, rồi 

cũng bay mất theo mây gió, nhưng cái tâm thông cảm, cái tâm 

yêu thương thì vẫn tồn tại mãi mãi...

Kỷ lục vĩ đại nhất là làm cho tâm hồn yêu thương của mình 

ngày càng lớn thêm, để có thể đón nhận nhiều mảnh đời bất 

hạnh trong xã hội hôm nay.


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư ) 

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện



 6. QUỶ CÁM ƠN QUAN THAM

Quan tham vơ vét tận xương tủy của dân, người ta gọi 

là “vơ vét sạch”, vơ vét lại càng vơ vét, trên thì đến trời cao, 

dưới thì đến hoàng tuyền, thậm chí vơ vét đến cả địa ngục.

Có một quan tham chuẩn bị từ chức, kiểm kê hành lý, 

ngay cả đất cũng vét bỏ vào rương, dân chúng oán hận đầy 

đường, nên khi ông ta đi thì chẳng có ai đưa tiễn.

Quan tham đi ra khỏi thành, trước mắt người ít đường 

trống trơn, đột nhiên thấy có mấy người thân cong lưng gù, 

mặt mày xấu xí, bày ra bên đường một cái bàn với các loại 

hoa quả, cùng tiễn biệt ông ta, nên ông ta vội vàng hỏi họ là 

ai.

Mấy người ấy cung kính nói:

- “Chúng tôi là quỷ tốt trong địa ngục, chịu ân đức cao như 

trời dày như đất của đại lão gia, nhờ đại lão gia vơ vét đến tận 

cùng địa ngục, khiến cho chúng tôi cả đời mới thấy được mặt 

trời của nhân gian, cảm kích vô cùng, nên đặc biệt đến quỳ lạy 

tiễn biệt ngài”.

(Hi đàm tục lục)

Suy tư 6:

Có những quan tham vơ vét của dân, thì cũng có quan tham 

vơ vét của nhà nước, nhưng chưa hề thấy có tham quan vơ 

vét...dưới địa ngục, chỉ có tham quan bị phạt trong địa ngục mà thôi.

Ma quỷ thì không biết cám ơn, nếu chúng nó biết cám ơn 

thì đương nhiên cũng biết hối lỗi mà xin Thiên Chúa thứ tha, 

nhưng nếu ma quỷ cám ơn thì chỉ cám ơn những quan tham tự

nguyện xuống hỏa ngục ở với chúng nó cho thêm đông...vui 

mà thôi.

Quan tham không phải là Ki-tô hữu thì người ta mắng: đồ

ăn bẩn; nhưng nếu quan tham là người Ki-tô hữu thì người ta 

mắng: đồ vô đạo.

Mà đúng như vậy, ai hiểu sao thì hiểu...


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư ) 

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện



5. TRUNG THÀNH VỚI NGHIỆP CỦA BỐ

Có một sai dịch đột nhiên giàu có hẳn ra, bèn mời thầygiáo dạy học cho con trai vì muốn thế hệ sau của mình đổi chức nghiệp, nhưng con trai đã quen làm việc của sai dịch, nên quyết định theo nghiệp của bố.

Một hôm, anh của sai dịch cầm cái quạt lông đi vào nhà, thầy giáo bèn ra một câu đối để học trò đối lại:

- “Trong tay ông bác phe phẩy quạt”.

Học trò đối lại:

- “Trên đầu gia quân đội lông ngỗng” (đồ trang sức trên mũ của sai dịch).

Thầy giáo lại ra câu đối:

- “Đọc sách làm văn giấy tạm thời”.

Đối lại:

- “Truyền, trình, phóng, cáo, xếp hàng, vệ” (đều là việc của sai dịch: truyền đạt đơn kiện, treo bảng thả người cáo trạng, sắp hàng thứ tự trình thượng cấp).

Lại ra câu đối:

- “Đọc sách nên đọc cho to tiếng”.

Đối lại:

- “Gọi loa dẹp đường nên cao tiếng”.

Lại ra câu đối:

- “Bảy trang cổ văn”.

Đối lại:

- “Bốn mươi bảng lớn”.

Thầy giáo rất giận dữ nói:

- “Đánh nói hồ đồ”.

Học trò nói:

- “Đi về trạm sau”.

Thầy giáo nói:

- “Đánh rắm”.

Học trò đối:

- “Lui đường”.

Thầy giáo nói:

- “Rên”.

Học trò nói:

- “Thét !” (tiếng quát của sai dịch).

(Hi đàm tục lục)

Suy tư 5:

Thời xưa có những người con chết sống cũng nối nghiệpcủa bố mình, dù nghiệp đó không vẻ vang cho mấy; thời nay cónhững người con được trang bị “tận răng” để nối nghiệp bác sĩ,kỹ sư, thầy giáo.v.v...của bố mình, nhưng chúng nó không thèm, bỏ nhà đi bụi, đem tương lai của mình quăng vào ma túy, đemcuộc đời của mình chôn trong bốn bức tường tù ngục...

Thời xưa cũng như thời nay, có những người Ki-tô hữuđược Chúa Giê-su chuẩn bị từ đầu đến cuối, bằng ân sủng bởithánh lễ và các bí tích, để họ trở thành những người môn đệ yêu quý của Người, sống tốt đạo đẹp đời, nhưng họ lại không thèm. Họ coi việc đi tham dự thánh lễ là mất thời giờ, hơn là ngồi trong phòng mát xa máy lạnh hàng giờ đồng hồ với mấy em mắt xanh môi đỏ; họ coi việc đi xưng tội là chuyện nhảm nhí, nên phạm tội là chuyện bình thường đối với họ; họ coi việc cầu nguyện là chuyện của người yếu bóng vía, nên họ trở thành kẻ kiêu ngạo và dửng dưng trước người bất hạnh...

Đức Chúa Giê-su cũng buồn lắm khi chúng ta từ chối tìnhyêu của Người đã dành cho chúng ta trong thánh lễ và các bítích, nhưng Chúa Giê-su cũng rất công bằng khi xử án chúng tatrong lửa đời đời...

Ai có tai thì nghe !


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 


Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

Chúa nhật 4 thường niên

 


CHÚA NHẬT 4 THƯỜNG NIÊN


Tin mừng : Mt 5, 1-12a.
“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”.

Anh chị em thân mến,
Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, mức sống con người ngày càng cao thì con người càng có nhu cầu hưởng thụ, do đó mà con người ta càng xa cách Thiên Chúa hơn. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Chúa Giê-su đã đưa ra cho chúng ta một chương trình hành động cụ thể trong một xã hội hưởng thụ, bon chen, đầy những tội ác và bất công, chương trình hành động ấy được mở đầu bằng mối phúc: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó...” và kết thúc bằng mối phúc: “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính...”
Nghèo là một hạnh phúc vì Thiên Chúa luôn bênh vực và đứng về phía người nghèo, bởi vì Đức Chúa Giê-su đã chọn lấy thân phận nghèo hèn để sống giữa chúng ta và dạy cho chúng ta biết rằng, nghèo khó chính là một hạnh phúc và bình an của những ai yêu mến và thành tâm tìm kiếm Nước Trời. Người nghèo chân chính là người sống bình an trong cảnh nghèo của mình với ân sủng của Thiên Chúa, là người không mơ tưởng đến của cải, danh vọng của người khác...
Hiền lành là một hạnh phúc vì Đức Chúa Giê-su đã sống như thế và dạy chúng ta sống như thế khi Ngài nói: “Hãy học với Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng”. Người hiền lành thì được Thiên Chúa chúc phúc cho hưởng gia nghiệp Nước Trời, và bời vì hiền lành chính là đầu dây của sự hòa thuận và yêu thương.
Đau khổ vì bị ngược đãi là một hạnh phúc, bởi vì Đức Chúa Giê-su đã bị người ta ngược đãi khi rao giảng tin vui Nước Trời, chính Ngài là người bị ngược đãi cách bất công nhất khi tay Ngài đã chúc phúc và chữa lành bệnh tật cho nhiều người. Những ai vì danh Đức Chúa Giê-su mà bị ngược đãi và đau khổ, sẽ trở nên giống Ngài hơn khi bị người khác đem những bất công trút trên đầu mình.
Khao khát nên người công chính là một hạnh phúc bởi vì Đức Chúa Giê-su là người vì sự công chính mà bị đóng đinh vào thập giá. Sống giữa một xã hội đầy những bon chen, mưu mô, gian dối, mà tìm được sự công chính của Thiên Chúa thì đúng là một hạnh phúc, sự công chính này không phải từ nơi tòa án của người đời, nhưng là nơi sự lương thiện của lương tâm và sự khao khát tìm kiếm Nước Trời như một cứu cánh, để trở nên chứng nhân cho Tin Mừng.
Xót thương người là một hạnh phúc vì Đức Chúa Giê-su đã xót thương mọi người, xót thương anh La-gia-rô đã chết, xót thương đứa con một của bà góa thành Na-im, xót thương những người tội lỗi và những người đang sống trong những nổi bất hạnh. Người biết xót thương người thì sẽ được Thiên Chúa xót thương, đó là quả phúc lành mà ai gieo thì sẽ gặt được trong cuộc sống của họ, bởi vì người biết xót thương đến những bất hạnh của tha nhân, thì cũng là người đã nhiều lần suy niệm đến tình thương của Thiên Chúa đã dành cho họ.
Tâm hồn trong sạch là một hạnh phúc vì xã hội càng văn minh thì những cơn cám dỗ càng tinh vi hơn và hiện đại hơn. Khi một xã hội với nhiều cạm bẩy làm cho người tu sĩ lỗi đức khiết tịnh, làm cho người vợ người chồng lỗi đạo phu thê, thì sống trong sạch là một lý tưởng tuyệt vời cho mọi người. Đức Chúa Giê-su đã sống đời trong sạch không tì ố dù Ngài đang tiếp xúc với nhiều hạng người, sự trong sạch này đã cảm hóa được cô Ma-ri-a Ma-đa-lê-na, đã cảm hóa được người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, và làm cho nhiều người noi gương Ngài sống đời trong sạch trong bổn phận của mình.
Xây dựng hòa bình là một hạnh phúc vì đó là niềm mơ ước của mọi người, là bài ca vui mừng của các thiên thần hát vang khi Đức Chúa Giê-su sinh ra: bình an dưới thế cho loài người Chúa thương. Người có bình an trong tâm hồn là người biết xây dựng bình an giữa xã hội, là người biết đem bình an đến cho mọi người bằng lời nói thiện chí và cử chỉ thân thiện, chứ không gắt gỏng và chua ngoa, là phục vụ chứ không sai khiến.
Bị bách hại vì sống công chính là một hạnh phúc đó là điều làm cho chúng ta nên giống Đức Chúa Giê-su hơn, như Đức Chúa Giê-su đã sống công chính, đã nói sự thật vì công chính mà bị giết chết, thì những môn đệ của Ngài cũng phải như thế. Cuộc sống hôm nay đầy những lừa đảo và gian dối thì cuộc sống công chính càng bị bách hại, bị truy nã hơn, do đó mà khi chúng ta biết đứng thẳng vươn người lên giữa những dối gian, là chúng ta đã đến gần thập giá của Đức Chúa Giê-su hơn.
Anh chị em thân mến,
Tám mối phúc thật là kim chỉ nam cho người Ki-tô hữu trở nên tốt lành thánh thiện như Đức Chúa Giê-su đã sống, tự nó –Tám mối phúc thật- là cõi phúc, nhưng nếu trong tâm hồn chúng ta không có Thiên Chúa, thì Tám mối phúc sẽ là những lời trêu đùa bỡn cợt, là cái đích để cho người đời công kích chúng ta.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
-------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện



 4.          MUỖI THÀNH THỊ, MUỖI THÔN QUÊ

Có hai con muỗi kết bái làm anh em, con muỗi thành phố làm em và con muỗi ở thôn quê làm anh.

Muỗi anh nói:

-                 “Các ông anh đại gia ở trong thành thị đều dùng những thức ăn cao lương mỹ vị, do đó mà da thịt phì nộn, em có lúc nào bỏ qua cái phúc miệng lớn ấy không ? Nông phu tiều phu như các anh ở thôn quê ăn toàn là gạo thô gạo xấu, rau rừng, do đó mà máu thiếu thịt xấu, anh làm sao cam tâm chịu khổ như thế này chứ ?”
  Muỗi em nói:

-                 “Đúng vậy, em ở trong thành thị hình như ngày ngày đều đi ăn tiệc, thật là ăn ngấy luôn”.

Muỗi anh nói:

-         “Vậy thì em dẫn anh vào thành thị nếm thử mỡ béo tốt của mấy ông anh đại nhân, sau đó anh dẫn em về nếm thử phong vị thôn quê”.

Muỗi em bằng lòng và dẫn muỗi anh vào trước chùa phật, chỉ hai bức tượng đại nguyên soái Hanh và Cáp trước cổng chùa, nói:

-      “Đây chính là đại gia, xin mời ăn nhanh lên”.

Muỗi thôn quê bèn bay cái vù lên trên thân tượng, chích rất lâu sau đó phàn nàn nói:

-         “Người trong thành thị của em to béo thật, nhưng lại quá nhỏ nhen, anh dùng hết sức chích đã lâu, nhưng ngay cả một giọt máu cũng không có, chứ đừng nói là có mùi vị”.

(Hy đàm tục lục)

 

Suy tư 4:

      Có người ở thôn quê thì cũng có người ở thành thị.

Người thôn quê lên thành phố thì cái gì cũng bỡ ngỡ vì ở quê chưa từng thấy, nhưng cái lo sợ nhất của người thôn quê lên thành phố là sợ lạc đường, sợ xe cộ tông, sợ bọn xấu lừa bịp, cho nên được kết bạn hay có người quen ở thành phố thì tốt lắm, đỡ sợ hãi khi ở nơi thành phố.

Nhưng con muỗi thành thị lại lừa dối con muỗi thôn quê.

Có những người kết bạn chỉ vì lợi cho cá nhân mình mà thôi, cho nên họ chẳng cảm thấy áy náy khi “bán đứng” bạn mình; có những người kết nghĩa anh em cũng chỉ vì để mình được tiến thân mà thôi, cho nên thân tiến càng cao thì tình anh em kết nghĩa càng nhạt mờ, và cuối cùng thì “chơi” luôn anh em sát ván, những người kết bạn bè anh em theo kiểu này thì đầy dẫy trên mặt đất, nhất là tình bạn vì lợi ích của cá nhân...

Rất ít người kết bạn với người Ki-tô hữu mà thất vọng, bởi vì người Ki-tô hữu luôn coi bạn hữu của mình là hình ảnh Đức Chúa Giê-su, để đón tiếp và để phục vụ, bởi vì ai kết bạn với người Ki-tô hữu thì cũng đều có một cảm nhận như nhau: yêu quý tình bạn hữu.

Lừa dối bạn nghèo, lợi dụng khó khăn của bạn hữu để bắt chẹt và khinh thường họ, là phạm tội giết linh hồn anh em.


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện

 


3.          NGŨ ĐẠI THIÊN ĐỊA

Có một ông quan địa phương nọ rất thích rượu, không màng đến chuyện công vụ nhưng thường tham ô tài vật, bá tánh không thể không oán hận.

Khi ông ta từ chức và bị điều qua địa phương khác thì dân chúng theo lệ cũ tặng một bức hoành “chính đức”, trên bức hoành viết bốn chữ “Ngũ đại thiên địa”. Ông quan nọ không giải thích được ý của nó.

Thân sĩ và dân chúng cùng lớn tiếng giải thích:

-         “Lúc ngài vừa mới đến nhậm chức thì:

1-       Vàng thiên bạc địa.

2-      Lúc ở tại nhà quan thì hoa thiên tửu địa (ăn chơi đàng điếm).

3-      Lúc thăng đường đoán án thì hôn thiên ám địa.

4-      Dân chúng hàm oan thì hận thiên oán địa.

5-      Hôm nay ngài mất chức thì tạ ơn trời đất !”

(Hy đàm tục lục)

 

Suy tư 3:

“Chính đức” có nghĩa là “đạo đức công chính”, nhưng “chính đức” của ông quan thì là hại dân hại nước, nên ai cũng vui mừng khi ông bị mất chức.

“Chính đức” của người Ki-tô hữu hữu là đạo đức chính trực, tức là sống trong hoàn cảnh nào cũng luôn thể hiện đạo đức của Tin Mừng và sự chính trực của người kính sợ Thiên Chúa, do đó mà người ta theo thói quen nhận xét, đã thấy được Đức Chúa Giê-su nơi người Ki-tô hữu qua năm điểm sau đây:

1.      Khi đến nơi nào, thì việc trước tiên của họ là thăm hỏi, quan tâm người khác.

2.      Khi làm việc chung với nhau, thì họ là người luôn để ý đến những nhu cầu tâm linh và cuộc sống của người bên cạnh để kịp thời giúp đỡ.

3.      Họ luôn là những nhân tố tích cực để người khác cảm thấy an tâm.

4.      Trên môi miệng họ luôn nở nụ cười và động viên người khác.

5.      Luôn gắt gao với mình, nhưng rộng lượng và thông cảm với tha nhân.

Đó là “ngũ đại phúc” của người Ki-tô hữu đem lại cho những người chung quanh mình.

Ai mà không thích chứ !


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện

 


2.          NGƯỜI NGHIỆN RƯỢU PHÁT THỀ

Có một người coi rượu như mạng sống, ngày ngày uống say bí tỉ, bạn bè bèn khuyên anh ta cai rượu.

Anh ta nói:

-      “Đáng lẽ tôi phải cai rượu, bởi vì con tôi khi ra khỏi nhà thì tôi thường mong nó trở về, nên tạm thời dùng rượu rót sầu, con trai trở về thì tôi liền cai ngay”.

Mọi người hỏi:

-      “Ông phải thề độc chúng tôi mới tin”.

Người nghiện rượu nói:

-      “Nếu con tôi trở về mà tôi không cai rượu thì dìm tôi chết trong lu rượu, lấy ly rượu chận nghẹn cổ tôi cho chết, xô tôi té chết trong bể rượu, ném tôi vào trong biển rượu cho chết, phạt tôi vì bá tánh mà sinh ra trong rượu, chết làm con quỷ trong bã rượu, dưới suối rượu vĩnh viễn không trỗi dậy được”.

Mọi người hỏi:

-      “Vậy thì con trai của anh đi đâu ?”

Ông ta trả lời:

-      “Đi ra ngoài Hạnh Hoa thôn mua rượu cho tôi rồi !”

(Hy đàm tục lục)

 

Suy tư 2:

Từ bỏ thói quen phạm một tội nào đó không phải là dễ dàng, bởi vì một thói quen khi đã thấm vào trong xương tủy thì khó mà thay đổi, dù cho họ có thể thốt độc địa. Người nghiện rượu thề thốt quanh co nặng lời thì cũng quanh quẫn trong rượu mà thôi, chứ tâm của họ làm gì mà cai rượu được !

Không ai tin người nghiện rượu thề thốt, cũng chẳng ai tin người nghiện xì ke ma túy hứa cai nghiện, bởi vì con người ta thường không có tính kiên nhẫn và lắng nghe.

Người Ki-tô hữu có tâm hồn yêu thương, thông cảm và phục vụ thì tin tưởng vào lời hứa của người nghiện rượu, cũng như tin vào quyết tâm cai nghiện của người xì ke ma túy, bởi vì họ có một tâm hồn kiên nhẫn trong khi phục vụ, và nhìn thấy Đức Chúa Giê-su đang ở trong những tâm hồn đang phấn đấu cam go giữ lời hứa ấy của người nghiện rượu, cũng như của người nghiện xì ke ma túy...

Đem lòng yêu thương và bao dung để tin tưởng, thì sẽ được đền bù xứng đáng.


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)