Thứ Tư, 14 tháng 8, 2024

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện

 


62.         CHA ĐÃ THIÊU RỒI

Có một người trước khi ra khỏi nhà thì dặn con trai:

-        “Nếu có người hỏi con bố đi đâu thì con phải nói là bố con có việc phải đi rất xa, con phải nấu trà tiếp đãi cho tử tế”.

Bởi vì con trai rất chậm hiểu và sợ nó quên, nên cha hắn viết lại trên giấy.

Đứa con trai lấy tờ giấy bỏ vào trong tay áo, không thèm coi.

Đã qua ba ngày rồi mà không thấy có người đến, nên đứa con cho rằng tờ giấy không cần nữa bèn bỏ vào trong lửa đốt.

Ngày thứ tư, đột nhiên có khách đến hỏi cha nó đi đâu, đứa con trai hoảng hốt tìm tờ giấy trong tay áo, nhưng tìm không có, bèn nói:

-        Chết rồi﹝沒了﹞

Người khách rất kinh ngạc nói:

-        “Chết khi mấy giờ.[1]

Đứa con trai ấy đáp:

-        “Đã thiêu tối hôm qua rồi !”

(Tiếu lâm)

 

Suy tư 62:

        Sách Cách Ngôn dạy rằng :

“Hởi các con,

hãy lắng nghe lời nghiêm huấn của bậc cha anh,

và chú ý để hiểu cho tường”.

        Nhưng thời nay có những bậc cha mẹ phải nghe lời con cái chứ không phải con cái nghe lời cha mẹ, đó là một thực tế ngày càng xuất hiện ở những thành phố phát triển, đó cũng là một nhức nhối cho các bậc làm cha mẹ cũng như của những nhà giáo dục, bởi vì một khi cha mẹ nghe lời con cái hơn là con cái nghe lời cha mẹ, thì gia đình sẽ không còn là nhà trường đầu tiên của con cái nữa thì xã hội sẽ không còn được bình yên.

        Việt Nam chúng ta cũng có câu: “Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư”, và thực tế cho chúng ta thấy, không một người con nào trở thành người tốt nếu không nghe lời dạy bảo của cha mẹ.

        Đứa con trai đã bỏ ngoài tai lời dạy của cha mình nên đã làm cho người khách một phen hốt hoảng.

        Người Ki-tô hữu nếu bỏ ngoài tai lời dạy của cha mẹ thì họ sẽ không thể nghe lời dạy của Đức Chúa Giê-su, bởi vì cha mẹ là những người thay mặt Thiên Chúa để sinh thành, dưỡng dục và dạy dỗ con cái nên người tốt, có ích cho mọi người...

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

[1] 沒了 nghĩa là không có, cũng còn cách đọc khác là “mo沒,歿” nghĩa là “chết”.

 

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2013

Chết biến thành quỷ

CHẾT BIẾN THÀNH QUỶ
 
 

Nguyễn Tuyên Tử không tin có quỷ thần.

     Có người cho rằng người chết sẽ biến thành quỷ, Nguyễn Tuyên Tử bác bỏ, nói:

-“Từ xưa đến nay, người nhìn thấy quỷ đều nói quỷ mặc y phục khi còn sống, nếu sau khi chết người biến thành quỷ thì áo quần cũng sẽ biến thành quỷ”.
(Thế Thuyết Tân Ngữ)

Suy tư:

     Người vô thần thường kênh kênh cái mặt lên trời cười kiêu ngạo khi thấy người công giáo đi lễ nhà thờ, hoặc thấy người Phật giáo đi thắp hương ở các chùa chiền, nhưng tự tâm họ vẫn luôn cầu cho mình được bằng an !

     Người hữu thần nói: có thế giới thần thiêng, có trời, có phật.

     Người công giáo nói: có một Thiên Chúa hằng hữu, có linh hồn và có thưởng phạt đời sau.

     Nếu không có đời sau thì sẽ không có một Thiên Chúa công bằng, chính trực; nếu không có đời sau, thì Đức Chúa Giê-su sẽ không xuống thế làm người chịu nạn chịu chết; nếu con người chết đi rồi chấm hết thì những lời dạy dỗ của Đức Chúa Giê-su là không đáng tin cậy và những việc lành mà chúng ta làm đều lãng phí và vô ích...

     Nhưng Đức Chúa Giê-su đã xuống thế làm người, đã chịu đau khổ, chịu chết và đã sống lại, để cho nhân loại thấy rằng: có sự sống đời sau, tức là có một thiên đàng vĩnh viễn và một hỏa ngục đời đời, để bày tỏ sự yêu thương và rất công bằng của Thiên Chúa đối với con người...

     Là người Ki-tô hữu, cũng có những lúc tôi đã sống như người vô thần không tin có Thiên Chúa hiện hữu, tôi vẫn cáo gian cho người khác, tôi vẫn kiêu căng khoác lác với mọi người, vẫn gian tham, vẫn đắm mê trong dục vọng đê hèn của chính mình, và trở thành gương mù cho những người chung quanh tôi.

-------------------------------

Dịch xong, ngày 7.2.2002

Viết xong suy tư ngày lễ Chúa Chiên Lành 21.4.2002

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

Chuẩn bị trước

 
CHUẨN BỊ TRƯỚC

Tham quân Hoàn Đạo Cung, mỗi lần đi săn cùng Nam quận công Hoàn Huyền, nơi lưng đều mang một sợi dây thừng đỏ thắm mềm mại, Hoàn Huyền hỏi ông ta :

-“Ông già rồi, mang sợi dây thừng làm gì vậy ?”

Hoàn Đạo Cung trả lời:

-“Mỗi lần ngài đi săn, nếu có chút gì đó không phấn khởi, thì thích trói tay thủ hạ. Tôi dự liệu cho mình, không sớm thì muộn cũng sẽ bị ngài trói, cho nên đã chuẩn bị trước sợi dây thừng này, lỡ ngài dùng sợi dây thừng vừa thô vừa gai mà trói thì đau lắm !”
(Thế Thuyết Tân Ngữ)

Suy tư :

     Người khôn ngoan là người biết chuẩn bị trước.

     Các thánh là những người luôn chuẩn bị trước cho cuộc hành trình về quê trời của họ, hành trang của họ gồm có :

Gậy là đức cậy,
Giày là đức mến,
Lương thực là Thánh Thể,
Dụng cụ y tế là bí tích giải tội,
Y phục là bác ái,
Nón an toàn là khiêm tốn.

Tất cả những thứ cần dùng này đều được các ngài bỏ vào trong ba-lô là đức tin.

Đã được chuẩn bị đầy đủ và lên đường với ân sủng của Chúa, nên các thánh đã đi tới mục tiêu của mình, dù cho trên đường đi gặp nhiều khó khăn và đôi lúc hầu như mất phương hướng.

Những người Ki-tô hữu là những người đang trên đường về quê trời, họ cũng được trang bị trước một số hành trang như các thánh, nhưng đi tới đích hay không thì đều hệ tại họ có kiên nhẫn bền chí với ơn gọi nên thánh và sứ mạng loan báo Tin Mừng bằng cuộc sống của mình hay không mà thôi.

Thiên Chúa đã chuẩn bị trước cho tôi một ba-lô đức tin và những thứ cần thiết ở trong ba lô đức tin ấy làm hành trang, tôi đã sử dụng nó để tiến về quê trời, hay sử dụng nó vào những cuộc du ngoạn vô ích ở cõi hồng trần, và có khi nguy hiểm đến sự sống đời đời của tôi ?

Ai hiểu thì hiểu.
 
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
dịch và viết suy tư

Con sâu rượu ngụy biện

CON SÂU RƯỢU NGỤY BIỆN
 
 

Khổng Quần vì thường uống rượu nên làm hỏng việc, bạn bè khuyên ông ta:

-“Uống rượu nhiều không tốt, miệng bình rượu làm bằng vải thường thường bị thối nát, khiến cho người uống rượu cũng rất nguy hiểm.”

Khổng Quần trả lời:

-“Các anh không thấy à, bỏ thịt vô trong bình rượu thì cũng dễ mục nát vậy ?”
(Thế Thuyết Tân Ngữ)

Suy tư:

     Tai hại của việc uống quá nhiều rượu thì ai cũng biết, kể cả người say rượu, nhưng khi say thì không ai nói mình say cả, mà nói là rượu say chứ họ không say !

     Thường thì khuyên bảo những người ngoại đạo theo đạo dễ hơn là khuyên người có đạo mà thờ ơ với đạo, bởi vì chính họ luôn cho cái thờ ơ với Chúa của mình là đúng.

Họ tức tối phê bình ông cha sở:

“Cha cố gì mà ham tiền, xin lễ không đủ tiêu chuẩn năm mươi ngàn thì không làm ngay, ai xin trên một trăm ngàn thì có trống với kèn, hát với hò, con nhà nghèo làm sao xin lễ được ?”

Họ nhạo cười phê bình mấy ông bà Đạo Binh Đức Mẹ :

“Mấy người đó đi khuyên bảo gì mà khuyên bảo, con cái họ cả đời không đến nhà thờ, gia đình thì lục đục dâu con, chồng thì rượu chè cả ngày, vậy mà đi khuyên bảo ai được, mắc cở như thế mà không chịu ở nhà...”

Bởi vì họ đã có thành kiến như thế nên khuyên bảo họ “quay về với Chúa” thì thật khó hơn dời núi; bởi vì họ giữ đạo là giữ cho ông cha sở và mấy ông mấy bà đạo binh Đức Mẹ, chứ không phải giữ đạo vì Chúa vì đức tin của họ...

     Tuy nhiên, xét cho cùng, tôi cũng có một phần trách nhiệm trong sự thờ ơ của họ đối với Chúa...
 
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
dịch và viết suy tư

Sự giải thích mới của danh sĩ

SỰ GIẢI THÍCH MỚI CỦA DANH SĨ
 
 

Có người xin được Vương Hiếu Bá chỉ bảo, hỏi:

-“Danh sĩ nhất định phải là người rất có tài cán phải không ?

Vương Hiếu Bá nói với người ấy:

-“Danh sĩ không nhất thiết phải là người ưu tú có tài cán, chỉ cần bình thường không việc gì là được. Nhưng lúc thường phải uống rượu thả cửa, đọc thuộc làu “ly tao” thì có thể gọi là danh sĩ rồi vậy”.
(Thế Thuyết Tân Ngữ)

Suy tư:

     Giáo dân định nghĩa người đạo đức là người thường xuyên đi lễ nhà thờ, là người năng đi rước lễ, là người một tuần ăn chay hai lần, là người có đọc kinh tối và kinh sáng.v.v....

     Đức Chúa Giê-su nói:“Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : “Lạy Chúa ! Lạy Chúa !” là được vào Nước Trời đâu”, và Chúa Giêsu định nghĩa người đạo đức là người luôn “thi hành ý muốn của Cha Thầy  là Đấng ngự trên trời”. Mà thật đúng như vậy, vì có nhiều người thường xuyên đi lễ nhà thờ, thường xuyên đi rước lễ, nhưng đồng thời cũng thường xuyên chửi vợ đánh con; có người một tuần ăn chay hai lần, nhưng vẫn ngồi lê đôi mách nói xấu hàng xóm...

     “Thi hành ý muốn của Cha trên trời” chính là chấp nhận thực tại đang sống cách vui vẻ: thực tại có thể là cảnh nghèo nàn, thực tại cũng có thể là sự đau khổ tột cùng, cũng có thể là sự giàu có, sự hạnh phúc và sự bất hạnh.v.v... Nhưng không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận hoàn cảnh thực tại cả đâu, bởi vì thực tại thì thấy rõ rõ ràng ràng trước mắt, còn ý Chúa thì ở đâu...xa vời trên trời không thấy.

     Chỉ có những người luôn cầu nguyện, cũng có nghĩa là luôn nghe và suy gẫm Lời Chúa thì mới biết cách “thi hành ý muốn của Cha trên trời” mà thôi.
 
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
dịch và viết suy tư

Đi thăm Kê Khang

ĐI THĂM KÊ KHANG
 
 

Chung Sĩ, Lý Tinh đều rất có tài và có học vấn.

Họ không quen biết Kê Khang, cùng nhau đi thăm Kê Khang, một ngày nọ thấy Kê Khang đang ngồi rèn dưới gốc cây cổ thụ, Hướng Tử Kỳ đang ở bên kéo đồ thổi bể cho lửa cháy.

Kê Khang như không biết bên cạnh có người, chỉ lo việc rèn khí cụ và làm không ngừng tay, cho đến gần tối mà cũng không nói với họ một tiếng, họ bèn bỏ đi.

Kê Khang nói:

-“Nghe được cái gì mà đến ? Thấy được cái gì mà đi ?”

Chung Sĩ trả lời:

-“Nghe được cái muốn nghe mà đến, thấy được cái muốn thấy mà đi”.
(Thế Thuyết Tân Ngữ)

Suy tư:

     Người có thực tài học vấn là người không câu nệ tiểu tiết, họ mong mỏi muốn nghe được những lời nói, những tư tưởng hay của người khác, cho nên họ không quản ngại đường xa đường gần mà đi tìm, họ không tự cao tự đại trong kiến thức và học vấn của mình.

     Có người mới kết thúc khóa học thì quăng sách vở vào xó, nói: “Học nhiều quá rồi” và từ đó không còn “rờ” tới quyển sách nữa; có người khi nghe người ta nói cha này giảng hay, cha nọ giảng có tư tưởng thì phản bác: “Tư tưởng đó cũ rích rồi, không hợp thời.”...

     Người thời xưa “nghe được cái muốn nghe mà đến, thấy được cái muốn thấy mà đi” nên họ đã trở thành những người uyên bác và có lòng khiêm tốn, còn người thời nay thì “nghe được cái muốn nghe mà không đến vì kiêu ngạo, thấy được cái muốn thấy mà không đi vì bận cãi lý và cho mình là hay, cho nên suốt đời tâm hồn của họ cứ bị nhốt trong ngục tù kiêu ngạo và ích kỷ...
 
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
dịch và viết suy tư

Một con chim bình thường

MỘT CON CHIM BÌNH THƯỜNG
 
 

Kê Khang và Lữ An là đôi bạn thân, có lúc cả hai bất chấp đường xa vạn lý, cũng đến gặp mặt.
Một lần nọ, Lữ An đi thăm Kê Khang, đúng lúc Kê Khang không có nhà, đợi rất lâu mà vẫn không thấy ông ta trở về, thế là trước khi bỏ đi, Lữ An viết trên cửa một chữ “phụng”, sau khi Kê Khang trở về thì rất là thích thú, ai mà biết được tất cả hàm ý của chữ “phụng” chứ ?     
Nhưng đó lại là ý giểu cợt ông ta là “con chim bình thường”.
(Thế Thuyết Tân Ngữ)

Suy tư:

     Chế giễu và chọc cười là hai cụm từ không giống nhau, thế nhưng cũng có người lầm tưởng là nó giống nhau, cho nên mới làm cho người khác hiểu lầm và tức giận.

     Chế giễu là đem cái khuyết điểm của người ta ra mà làm trò đùa cho thiên hạ cười, chế giễu là “nhại” lại những động tác, cử chỉ, lời nói của anh em cho mọi người cười chơi, đây là một hành vi của người vô giáo dục, là một thái độ kiêu căng hợm hĩnh của người thiếu văn minh.

     Chúng ta đọc lại đoạn Phúc Âm của thánh Mát-thêu, để coi những hành động và lời nói của quân lính đã chế giễu Đức Chúa Giê-su:“Chúng lột áo Người ra, khoác cho Người một tấm áo choàng đỏ, rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Người một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo rằng : “Vạn tuế Đức Vua dân Do Thái !” Rồi chúng khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy mà đập vào đầu Người. Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra và cho Người mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá” . Càng đọc chúng ta càng tức tối, giận dữ run lên vì sự chế giễu của bọn lính tráng đối với Đức Chúa Giê-su là Thiên Chúa làm người.

     Người ta cũng sẽ giận dữ nộ khí xung thiên với tôi, khi tôi chế giễu người khác, lấy họ ra làm “đề tài” chế giễu để thiên hạ cười cho vui.
 
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
dịch và viết suy tư

Cát sỏi phía sau

CÁT SỎI PHÍA SAU
 
 

     Vương Văn Độ, Phan Vinh Kì hai người đều là thủ hạ làm việc dưới trướng Giản Văn Công.

     Họ Vương tuổi lớn mà địa vị nhỏ, họ Phan tuổi nhỏ mà địa vị lớn, về sau, chức vụ của Phan lại trao qua cho họ Vương.

     Vương Văn Độ giểu cợt Phan Vinh Kì, nói:“Sàng sảy bốc lên, rơm rác phía trước”.

     Phan Vĩnh Kì giểu cợt lại, nói:“Đào thải chọn lọc, cát sỏi phía sau”.
(Thế Thuyết Tân Ngữ)

Suy tư:

     Người đời thường lấy tước hiệu, chức vị để coi trọng và đánh giá lẫn nhau, cho nên mới nảy sinh phân biệt giai cấp, coi thường nhân phẩm của người nghèo và lẻ phải công bằng đều ở cả nơi người giàu có, người có tước vị, chức quyền...Nhưng tất cả những tước hiệu chức vị ấy đều không tồn tại, hôm nay nó được trao cho người này, thì ngày mai ngày mốt nó cũng sẽ được trao qua cho người khác, có gì là vênh vang lếu láo với anh em chứ ?

     Trên đời chỉ có một tước hiệu cao quý nhất và vĩnh viễn không mất đi, đó là thiên chức Linh Mục, bởi vì tước hiệu chức vụ này là do Chúa Giêsu lập ra, chứ không phải do con người, mà đã do Chúa lập ra thì làm sao mà mất mà hư được chứ ?

     “Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-sê-đê”, “muôn thuở” tức là đời đời vĩnh viễn, đời đời vĩnh viễn là tư tế của Thiên Chúa.

Nhưng có những lúc người ta không nhận ra tôi là một linh mục đời đời của Chúa Giêsu, người ta chỉ biết tôi là một con người bon chen như họ, vẫn ham danh đoạt lợi như họ, vẫn chia bè kết phái để đấu đá nhau như người đời, vẫn muốn ăn trên ngồi trốc như những quan quyền trong xã hội... Các tín hữu của thời đại ngày nay rất hiểu và thông cảm cho tính yếu đuối của con người nơi các linh mục của họ, nhưng không phải vì thế mà họ chấp nhận những thái độ quá ư là không linh mục nơi tôi, đó là : kiêu căng, phách lối, hách dịch, kẻ cả...

“Muôn thuở, con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-sê-đê” chứ không phải là theo cơ chế phẩm trật của nhà vua, của chính quyền hay của một đoàn thể xã hội nào cả ở trần gian này.
 
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
dịch và viết suy tư

Tranh cải tên trước sau

TRANH CẢI TÊN TRƯỚC TÊN SAU
 
 

Có một lần, hai người là Chu Cát Lệnh và Vương thừa tướng, chỉ vì tên họ trước sau mà tranh cải ồn cả lên, Vương thừa tướng đưa ra lý do

-“Tên họ được xếp ở giữa, tại sao không gọi là Cát Vương, mà lại gọi là Vương Cát ?”

Chu Cát Lệnh phản bác nói:

-“Cái này không dể dàng giải thích, trong cuộc sống thường ngày chúng ta nói lừa ngựa, mà không nói ngựa lừa, ngài cũng biết, lẽ nào ngựa không như lừa sao ?”
(Thế Thuyết Tân Ngữ)

Suy tư:

Nói “lừa ngựa” hay là nói “ngựa lừa” thì cũng giống nhau mà thôi, chẳng qua là do thói quen nói lâu ngày rồi trở thành nếp, không quan trọng, cái quan trọng là một khi đã thành thói quen rồi, có bằng lòng sửa lại không, bởi vì sửa lại một thói quen đã thành nếp thì rất khó.

Thói quen hách dịch với người khác, thói quen muốn chơi trên đầu trên cổ người ta, thói quen nói móc họng anh em.v.v...và rất nhiều thói quen không tốt khác của chúng ta, đã làm cho người khác khó chịu và chịu không nổi, mà đôi lúc chúng ta cứ cho là “bản tính tôi” nó như thế, mà không chịu sửa đổi. Linh mục Vincent Lebbe  đã dạy các đệ tử của mình rằng:“Làm thì có phương pháp, không làm thì không có phương pháp”, có nghĩa  là nếu trong mọi công việc, dù khó khăn đến đâu, nếu chúng ta bắt tay làm thì tự nhiên sẽ có phương pháp làm, còn nếu chúng ta không muốn làm, thì nhất định sẽ không có phương pháp. Nếu chúng ta quyết tâm sửa đổi những thói quen xấu, những thói quen không mấy tốt đẹp, thì nhất định chúng ta sẽ có phương pháp làm và sẽ thành công.

Đương nhiên chúng ta cũng rất cần ơn Chúa giúp mới có thể thành công, nhưng nếu chúng ta không quyết tâm làm, thì chúng ta lấy tư cách gì mà đòi Chúa giúp chứ ? Ngài chỉ giúp khi chúng ta quyết tâm làm mà thôi.
 
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
dịch và viết suy tư

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2013

Trong bụng đựng người

TRONG BỤNG ĐỰNG NGƯỜI
 
 

Vương thừa tướng gối đầu trên đầu gối của Châu Bá Nhân, chỉ vào bụng của Châu mà nói:

-“Trong cái này của ông có những gì nào ?”

Châu Bá Nhân cười vui vẻ trả lời:

-“Ở trong này không có gì cả, nhưng dung lượng bụng thì lớn, có thể đựng ngài và khoảng 100 người”.
(Thế Thuyết Tân Ngữ)

Suy tư:

     Người ta thường nói mưu kế đầy một bụng, chứ ít ai nói mưu kế đầy một...óc não, cho nên “bụng” của các mưu sĩ thì nhỏ nhưng dung lượng thì lớn đến nỗi trí óc của một ông vua và trí óc của một trăm người cộng lại cũng không bằng.

     Cũng có những người tín hữu khoe khoang với cha sở của mình rằng: “Con là con nhà đạo gốc, con học giáo lý từ nhỏ, kinh sách gì cũng thuộc làu như ăn cháo, cho nên con có cả một bụng giáo lý !”

Có cả “một bụng” giáo lý, nhưng không thấy tham gia các đoàn thể trong họ đạo, thấy ai được mời tham gia công việc nhà thờ thì tức tối nói xấu người ta; có cả “một bụng” giáo lí, nhưng chia bè kết phái để chửi và kiện cha sở của mình nơi phường xã, vì chút quyền lợi cá nhân không chính đáng; có “một bụng” giáo lý nhưng mỗi năm chỉ có hai lần đi lễ là lễ giáng sinh và lễ phục sinh...

     Có cả “một bụng” giáo lý thì nên cộng tác với cha sở, với người có trách nhiệm để xây dựng họ đạo ngày càng tốt đẹp hơn, như thế mới đúng là “con nhà đạo gốc, thuộc làu kinh sách như ăn cháo” vậy !
 
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
dịch và viết suy tư

Giết người đẹp

GIẾT NGƯỜI ĐẸP
 
 

Cuộc sống của Thạch Sùng rất là xa xỉ, mỗi lần cùng khách dự tiệc thì nhất định phải để cho người đẹp chuốc rượu, nếu người đẹp không thể làm cho khách uống được thì người đẹp bị tội chết.

Có một lần, Thạch Sùng làm tiệc mời thừa tướng Vương Đạo và một vị đại tướng quân. Thường ngày Vương thừa tướng rất ít uống rượu, nhưng ông ta biết Thạch Sùng có thói quen ác độc ấy, bèn miễn cưỡng đến, ăn uống đến say mèm, mà vị đại tướng quân kia lại cố ý không uống, kết quả là Thạch Sùng giết hết ba người đẹp.

Vương thừa tướng khuyên vị đại tướng quân uống, đại tướng quân nói:

-“Hắn ta giết người của gia dình hắn, mắc mớ gì đén tôi chứ ?”
(Thế Thuyết Tân Ngữ)

Suy tư:

     Trong cuộc sống tiếp xúc hàng ngày, thỉnh thoảng chúng ta có nghe câu nói: “Kệ nó, mắc mớ gì đến tôi chứ”. Nếu tôi cũng nói như thế khi người anh em tôi sai lỗi, thì tôi có phải là con một Cha trên trời với người anh em đó không ? Nếu ai cũng nói với tôi như thế khi tôi sai lỗi, thì tâm hồn tôi có bằng an không, hay là tôi sẽ giận dữ thêm và càng sai lỗi hơn nữa ?

     Bác ái của người Ki-tô hữu không phải chỉ là cứu giúp người khi họ đói khát, cũng không phải chỉ là thăm viếng kẻ tù tội hay là bệnh nhân, càng không phải chỉ là đi khuyên bảo người có tội trở lại.v.v... nhưng việc trước tiên của bác ái chính là “đồng cảm với những yếu đuối của anh em”, cũng như Đức Chúa Giê-su đã đồng cảm với những yếu đuối và khuyết điểm của chúng ta khi mang thân phận con người, để cứu chuộc chúng ta.

     Trong cuộc sống nếu tôi cứ dửng dưng trước những sai trái của anh chị em tôi, nếu tôi cứ lạnh lùng nói với họ: “kệ nó, mắc mớ gì đến tôi chứ”...thì Thiên Chúa cũng sẽ nói với tôi như thế: “Kệ mày, mắc mớ gì đến Ta chứ”...
 
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
dịch và viết suy tư

Hí hửng mà trở về

HÍ HỬNG MÀ TRỞ VỀ
 
 

Vương Tử Du ở tại Sơn Âm.

Một đêm nọ mưa tuyết lớn, nửa đêm tỉnh dậy, mở cửa nhìn ra bên ngoài, tâm tình lập tức kích động lên, uống rượu ngâm thơ, ngâm câu Tả Tư “Triệu Ẩn”, đột nhiên nghĩ đến Đới An Đạo cầm kỳ thi họa đều tinh thông nhưng ẩn cư không chịu ra làm quan, hồi ấy Đới ở tại đất Diệm, Vương Tử Du ngồi thuyền nhỏ đi nhanh suốt đêm đến gặp ông ta.

Qua một đêm mới đến đất Diệm, khi đã đến trước cổng nhà họ Đới không xa, thì Vương Tử Du lại trở về.

Người cùng đi với ông ta hỏi tại sao không vào, ông ta trả lời:

-“Khi đi thì tôi hí hửng mà đi, nay trở về thì hí hửng mà trở về, cần gì phải gặp ông ta chứ ?”
(Thế Thuyết Tân Ngữ)

Suy tư:

     Có người vui vẻ khi đi, và vui vẻ khi trở về.

     Có người vui vẻ khi đi, nhưng khi trở về thì buồn sầu.

     Trên đường lữ thứ trần gian, người Ki-tô hữu là những người vui vẻ nhất, bởi vì họ mang trên mình một sứ mệnh, sứ mệnh “loan báo tin vui phục sinh” cho mọi người, bởi vì trên đường đi, họ không cô độc vì có Chúa Phục Sinh cùng đồng hành với họ. Không ai loan báo tin vui mà mặt mày bí xị, cũng không ai loan báo tin vui mà mặt mày cau có khó coi, nhưng trên khuôn mặt họ sáng ngời nét hân hoan, tâm hồn họ bùng cháy sự nhiệt tâm phục vụ vì yêu thương.

     Vui vẻ ra đi, dù trên đường đi gặp nhiều chướng ngại vật cản đường, dù trên đường đi có nhiều chống đối vì bất đồng ý kiến hay bất đồng ý thức hệ, người Ki-tô hữu vẫn cứ mạnh dạn đi tới với anh chị em mình để loan báo tin vui, để làm chứng cho niềm tin và để phục vụ trong yêu thương.

     “Lạy Đức Chúa Giê-su, sứ mệnh của con được thể hiện rõ ràng nhất trong ngày con thụ phong linh mục, con vui vẻ đón nhận thánh chức mà Chúa và Giáo Hội trao cho, và hân hoan ra đi, thì xin Chúa cũng ban cho con được vui vẻ chu toàn bổn phận, để khi trở về nhà Cha trên trời con cũng vui vẻ hân hoan mà trở về, như ngày con hân hoan vui vẻ ra nhận chức thánh ra đi phục vụ các linh hồn...”
 
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
dịch và viết suy tư

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

Sự thản nhiên của Dật Thiều

SỰ THẢN NHIÊN CỦA DẬT THIỂU
 
 

Lúc Hy Giám ở thủ đô có sai một môn sinh đến chỗ ở của Vương thừa tướng để tìm chàng rể.

Thừa tướng nói với sứ giả của Hy Giám:

-“Ông có thể đi đến nhà ngang phía đông tùy ý chọn lựa.”

Sau khi xem qua, môn sinh trở về bẩm với Hy Giám:

-“Các nhi lang của Vương gia đều giỏi, chỉ có điều là sau khi nghe nói có người đến tìm chàng rể, thì đều cố ý làm ra vẻ trang trọng. Nhưng lại có một nhi lang không như thế, chàng ta hình như không nghe biết việc chọn tìm chàng rể, vẫn thản nhiên nằm bên trong”.

Hi công cảm khái phấn khởi, vỗ bàn nói:

-“Chọn người thản nhiên”.

Về sau, người ấy chính là Vương Nghĩa Chi.
(Thế Thuyết Tân Ngữ)

Suy tư:

     Trong Tin Mừng của mình, thánh sử Mát-thêu đã dành hẳn một trang “cho” Đức Chúa Giê-su để Ngài quở trách những kinh sư và người Pha-ri-siêu. Ngài quở trách họ, vì họ sống không đúng thực với lời họ giảng dạy cho dân chúng; Ngài trách mắng họ, vì họ chỉ nói mà không làm; Ngài quở trách họ, vì họ thích đi nghênh ngang giữa đám đông dân chúng ra vẻ...ta đây.

     “Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-siêu giả hình ! Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế.” Cái mả tô vôi thì ai cũng biết không có gì lạ, nhưng một con người trở thành cái mả tô vôi thì thật khủng khiếp, bởi vì họ dùng một thứ đạo đức giả làm bình phong che giấu tội ác, lấy sự nhã nhặn, niềm nở bên ngoài để che giấu thù hận bên trong; lấy sự khiêm tốn giả tạo để che lấp tính kiêu căng, lấy yêu thương dối trá để tô vẽ bộ mặt bên ngoài cho “hợp nhãn” với mọi người, nhưng bên trong thì đủ mọi thứ xấu xa đê tiện...

     Người ta sẽ gọi tôi là cái mả tô vôi, nếu tôi sống không trung thực với mình, nếu tôi giữ đạo bên ngoài cho có lệ, nếu tôi...
 
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
dịch và viết suy tư