Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2026

Chúa nhật 5 mùa chay

 


CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY


Tin mừng : Ga 11, 3-7,17. 20-27, 33b-45.
“Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống”.

Anh chị em thân mến,
Có câu chuyện ngụ ngôn như thế này:
“Một ngày nọ, chim cánh cụt hỏi Chúa Tạo Vật :
-“Cái gì là lòng tin ?”
Chúa Tạo Vật trả lời :
- “Đối với sự việc mong đợi mà con vẫn nắm vững, đối với sự việc chưa nhìn thấy mà còn có thể xác định” (1) .
Qua câu chuyện ngắn này, chúng ta có thể thấy đức tin rất mạnh của cô Mác-ta trong bài Tin Mừng hôm nay. Cô Mác-ta đã trả lời với Đức Chúa Giê-su: “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết” , cô đã tin dù rằng cô chưa biết người ta sẽ sống lại như thế nào trong ngày sau hết, cô đã nắm vững cái mà cô mong đợi. Đức Chúa Giê-su đã mặc khải cho cô Mác-ta biết: “Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?” Cô Mác-ta đáp : “Thưa Thầy, có. Con tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa...” , cô đã xác định Đức Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô, là Con Thiên Chúa, dù cô chưa thấy vinh quang và công việc cứu thế của Ngài...

1. Mong đợi nhưng đã nắm vững.
Cuộc sống của người Ki-tô hữu là cuộc sống mong đợi trong hy vọng, mong đợi ngày sẽ được sum họp với Cha trên trời, mong đợi ngày được hưởng phần phúc vinh hiển sống lại với Đức Chúa Giê-su trên thiên đàng. Sự mong đợi này chỉ có những người Ki-tô hữu biết và tin tưởng mà thôi, dù rằng cuộc sống có nhiều đau khổ và gian nan, dù rằng cuộc sống có nhiều bất công và áp bức.
Mong đợi ngày Đức Chúa Giê-su lại đến trong vinh quang, đó chính là đức tin của chúng ta, do đó, dù phải gặp nhiều đau khổ thì chúng ta vẫn mong đợi ngày Chúa lại đến; dù bị đối xử cách bất công thì chúng ta cũng vẫn mong đợi và nắm vững rằng Đức Chúa Giê-su chính là Đấng phải đến mà thiên hạ đợi trông. Nắm vững cái mình mong đợi chính là đức tin của chúng ta, đức tin này sẽ vững mạnh và trưởng thành trong đau khổ khi chúng ta nắm chắc niềm mong đợi và hy vọng của mình.

2. Chưa nhìn thấy nhưng đã xác định.
Không ai thấy Thiên Chúa bao giờ nếu Ngài không cho họ thấy, từ khi Đức Chúa Giê-su lên trời cho đến nay thì không ai thấy Ngài, nếu Ngài không cho họ thấy, cũng vậy, chúng ta chưa hề thấy Thiên Chúa nhưng chúng ta xác định rằng có Thiên Chúa hiện hữu trong vũ trụ; chúng ta không thấy Đức Chúa Giê-su chịu khổ hình và bị đóng đinh đến chết trên Thánh Giá, nhưng chúng ta xác tín rằng, thông phần đau khổ với Ngài trong cuộc sống hy sinh của mình, chính là được chia sẻ những đau khổ của Ngài đã chịu vì tội lỗi của nhân loại và của chúng ta.
Xác tín điều mình chưa thấy chính là đức tin của chúng ta, sống những điều mình chưa thấy là hành động của những người tin và biết phó thác cho Thiên Chúa.
Anh chị em thân mến,
Cô Mác-ta đã tin và đã xác tín Đức Chúa Giê-su chính là Con Thiên Chúa đã đến trong thế gian, đó cũng chính là đức tin của chúng ta. Trong cuộc sống đời thường, có những lúc đức tin và sự mong đợi của chúng ta bị lung lay, bởi vì những cám dỗ của trần gian mạnh hơn sự mong đợi, và những hưởng thụ thực tế của thế gian có sức hút hơn đức tin của mình, do đó mà chúng ta bị té ngã trong những cám dỗ ấy.
Mong đợi nhưng nắm vững, chưa thấy nhưng đã xác định, là niềm hy vọng và niềm vui của người Ki-tô hữu.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

(1) Trích trong “Truyện ngụ ngôn cho thời hiện nay”, bản dịch và viết suy tư của Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
---------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện

 


42.          GIÁ ÁO TÚI CƠM

Có một năm mùa màng thất thu, gạo rất quý, nên giá cả tựa hồ như ngọc quý. Có một phú ông ăn cơm no, hể hả đắc ý khác thường, cười nhạo nói với một học trò nhà nghèo:

-      “Chữ không trị được đói, sự học dù có đầy bụng cũng không bằng gấm vóc”.

Anh học trò trề môi nhạo lại, nói:

-      “Học không cần cầu no, nên hổ thẹn (vì) không một túi văn chương”.

Câu giễu cợt này chính là nói ông phú ông kia chẳng qua là phường giá áo túi cơm mà thôi.

(Khán Sơn Các Nhàn bút)

 

Suy tư 42:

Có tiền bc ca ci mà không có chữ nghĩa thì...hơi buồn một chút, nhưng có tiền của mà không có chữ nghĩa, cũng không có đạo đức thì đúng là phường giá áo túi cơm. Tại sao vậy ? Thưa, tại vì những phường giá áo túi cơm thì luôn tỏ ra hách dịch với người nghèo và khúm núm quỵ lụy với người sang trọng quyền quý, loại này thì có nhiều trong xã hội hôm nay.

Người không có đức tin thì dựa vào của cải vật chất và danh vọng, cho nên khi của cải vật chất và danh vọng không còn nữa thì họ không con muốn sống nữa; người có đức tin thì đem cuộc sống của mình phó thác cho Thiên Chúa, cho nên dù giàu hay nghèo thì họ vẫn cứ là người Ki-tô hữu sống kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân như chính mình vậy.

Ông phú hộ dựa vào của cải để khinh chê anh học trò nghèo, người Ki-tô hữu dựa vào đức tin để nhận biết người nghèo là hình ảnh của Đức Chúa Giê-su.

Có đức tin và không có đức tin thì khác nhau xa lắm.


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện

 


41.          CHỈ DỤ CỦA PHẬT SỐNG

Có một hòa thượng rất thích uống rượu ăn thịt, hòa thượng trụ trì nhiều lần quở trách ông ta.

Hòa thượng ấy oán hận trong lòng bèn tập họp các hòa thượng khác lại, mặt mũi vẽ lăng nhăng, tay cầm gậy gỗ, uy hiếp hòa thượng trụ trì, nói:

-      “Chúng ta là Tế Công hóa thân, bây giờ nhắn nhủ nhà ngươi: phật môn của chúng ta ngoài việc từ bỏ ba việc tham, sân, si ra, còn trăm thứ khác không cấm kỵ, thì uống rượu ăn thịt có quan hệ gì chứ ?”

Nói xong, giơ cao gậy muốn đánh, hòa thượng trụ trì rất sợ hãi, cúi đầu nhận tội, từ đó về sau không còn dám cấm các đồ đệ uống rượu nữa.

Quan huyện biết được, bèn bắt hòa thượng trụ trì đến trách phạt, hòa thượng trụ trì nói:

-      “Tôi tình nguyện chịu lão gia phạt, chứ không dám làm sai lời chỉ dụ của phật sống !”

(Khán Sơn Các Nhàn bút)

 

Suy tư 41:

Tham, sân, si không phải chỉ các hòa thượng mới cấm kỵ, nhưng muốn trở thành con người tốt thì ai cũng cố gắng từ bỏ tham, sân, si trong cuộc sống của mình.

Người Ki-tô hữu cũng phải từ bỏ tham, sân, si như những người khác, nhưng tham, sân, si, không phải tự trên trời rơi xuống, cũng không phải bởi người khác...lây lan qua, nhưng nó đã có sẵn trong tim trong máu của chúng ta, và luôn đồng hành với cuộc sống của con người. Do đó, diệt tham, sân, si không phải là chuyện một sáng một chiều, và cũng không phải tự mình diệt được, vì không ai muốn tự diệt mình cả, nhưng phải nhờ ân sủng của Thiên Chúa mới có thể diệt trừ được tham, sân, si.

Từ bỏ tham, sân, si là chỉ dụ của phật chết, nhưng uống rượu ăn thịt là chỉ dụ của phật sống, đó là cái si của hòa thượng trụ trì, cho nên thà bị quan lớn phạt vì tội để cho cấp dưới lộng hành phá gới, hơn là làm sai lời (ba láp) của phật sống.

Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của kẻ sống, nên lời dạy của Người cũng là lời ban sự sống đời đời.


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026

Thánh cả Giu-se

 


THÁNH CẢ GIU-SE

Đấng Công chính, Khiêm tốn và Thầm lặng

Giáo Hội Công Giáo không những dành ngày 19.3 trong năm để tôn kính Thánh cả Giu-se là Bạn Thanh Sạch của Đức Mẹ Ma-ri-a, và ngày 1.5 là để mừng ngài là quan thầy của giới thợ thuyền, mà hơn thế nữa, Giáo Hội dành trọn tháng Ba để đặc biệt tôn kính Thánh cả Giu-se, bởi vì –đối với Thiên Chúa- thì ngài có vai trò rất lớn trong chương trình cứu chuộc loài người, và –đối với Giáo Hội- ngài chính là đấng quan thầy của toàn thể Giáo Hội Công Giáo, là bổn mạng của các gia trưởng, và là mẫu gương nhân đức để cho mọi người bắt chước noi theo.
Giữa một thế giới mà sự dữ và tội ác lan tràn, khi mà con người lạm quyền tự do Thiên Chúa ban cho để chối bỏ hạnh phúc gia đình, họ chỉ biết hưởng thụ vật chất, ích kỷ cho bản thân mình, mà từ chối trách nhiệm làm cha làm mẹ trong gia đình để dẫn đến ly dị, gây ra biết bao cảnh đời bất hạnh cho con cái của họ, thì Giáo Hội nêu cao gương sáng của Thánh cả Giu-se, để qua ngài mà nhân loại nhìn thấy được tình yêu quan phòng của Thiên Chúa đối với mỗi người, và qua ngài mà nhân loại nhận ra mình cũng có phần trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa, để chu toàn bổn phận và trách nhiệm mà Thiên Chúa giao phó cho mình.

1. Thánh cả Giu-se – Đấng Công Chính.
Phúc Âm của thánh Mát-thêu nói Thánh cả Giu-se là người công chính (Mt 1, 19) , người công chính là người biết kính sợ Thiên Chúa, là người luôn làm theo lương tâm ngay thẳng của mình, là người biết chu toàn bổn phận của mình cách khôn ngoan, và là người biết chăm sóc gia đình của mình với tất cả yêu thương của người quản gia của Thiên Chúa.
Là người công chính, nên Thánh cả Giu-se đã giải quyết cách khôn ngoan khi thấy vị hôn thê của mình là Đức Mẹ Ma-ri-a mang thai Đấng Cứu Thế, sự khôn ngoan này không phải một sớm một chiều mà có, nhưng là bởi lương tâm của người công chính thường hay suy niệm đến thánh ý Chúa trong cuộc sống của mình, do đó mà Thánh cả Giu-se bình tĩnh để cho thánh ý Chúa thực hiện nơi Đức Mẹ Ma-ri-a, mà không ồn ào trách móc cũng như chịu cay đắng nhục nhã.
Sự công chính này của Thánh cả Giu-se là mẫu gương cho tất cả chúng ta, dù là sống bậc tu trì hay sống bậc vợ chồng, bởi vì dù chúng ta có trở thành người tốt chăng nữa, thì cái tôi háo thắng, cái tôi kiêu ngạo, và cái tôi ích kỷ của mình vẫn là làm cho chúng ta thấy ý muốn của mình vượt trên cả thánh ý của Chúa, do đó mà chúng ta dễ dàng bắt người khác trả lại danh dự cho chúng ta, chúng ta dễ dàng lên án, chửi mắng đòi hỏi người khác phải trả lại sự công bằng cho chúng ta, mà chúng ta quên mất mình là người Ki-tô hữu.
Chúa Cha đã chọn Thánh cả Giu-se làm cha nuôi của Con Một Ngài là Đức Chúa Giê-su, là bởi vì Thánh cả Giu-se là người công chính. Không ai đem con yêu quý của mình giao cho một người bất lương nuôi nấng dạy dỗ, nhưng giao con của mình cho người công chính, để người con của mình trở thành người đạo đức thánh thiện. Đức Chúa Giê-su đã trở thành “mặt trời công chính” chiếu soi nhân loại đang đi trong tối tăm của tội lỗi, một phần là nhờ sự dạy dỗ của người cha nuôi công chính là Thánh cả Giu-se.

2. Thánh cả Giu-se – con người Khiêm Tốn.
Sự công chính làm nảy sinh đức khiêm tốn, hay nói cách khác, khiêm tốn là hoa trái của sự công chính, khiêm tốn là tự biết mình là ai và có khả năng tài cán gì để phục vụ tha nhân, như lời của Đức Chúa Giê-su đã dạy: có thì nói có, không thì nói không, thêm điều đặt chuyện là việc của ma quỷ (Mt 5, 37).
Thánh cả Giu-se biết mình là ai, là người được Chúa Cha chọn để nuôi nấng và giáo dục Đức Đức Chúa Giê-su, ngài cũng biết mình chỉ là đầy tớ vô dụng chỉ làm những gì mà ông chủ (Thiên Chúa) dạy làm mà thôi, cho nên trong suốt cuộc sống tại thế, ngài luôn khiêm tốn phục vụ Đức Mẹ Ma-ri-a và Đức Chúa Giê-su trong vai trò gia trưởng cách trọn vẹn, mà không một tiếng khoe khoang với người hoặc than trách với trời.
Biết mình chỉ là đầy tớ vô dụng của Chúa, nên ngài khiêm tốn vui vẻ nhận Đức Mẹ Ma-ri-a làm bạn của mình khi Mẹ mang thai Đấng Cứu Thế; biết mình chỉ là đầy tớ vô dụng, nên Thánh cả Giu-se hết sức làm việc lao động để góp phần vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Ngài như một nền nhà kiên cố thầm lặng chôn dưới lòng đất, để cho tòa nhà vĩ đại là Đức Chúa Giê-su và Đức Mẹ Ma-ri-a nổi bật giữa phong ba sóng gió cuộc đời:
- Nếu không có sự khiêm tốn thì khi thấy vợ mình mang thai Đấng Cứu Thế, Đấng Cứu tinh nhân loại lại sinh ra trong hang đá Bê Lem nghèo hèn không mảnh vải che thân, thì Thánh cả Giu-se sẽ oán trời trách người.
- Nếu không có đức khiêm tốn, thì khi thấy các thiên thần từ trời xuống ca hát chúc vinh, các mục đồng đến thờ lạy, và có cả các nhà hiền sĩ xá lắc xa lơ bên phương Đông đến thờ lạy Đấng Cứu Thế trong máng cỏ tồi tàn, thì Thánh cả Giu-se sẽ trở thành kẻ kiêu căng và sẽ tự tôn mình và gia đình lên cao trong cao ngạo.
- Và khi thấy Đấng Cứu Thế -Đức Chúa Giê-su- mới sinh đã bị người đời ghét bỏ tìm giết, nếu không có sự khiêm tốn tột cùng phó thác, thì Thánh cả Giu-se sẽ trở thành kẻ chống đối Thiên Chúa, và oán trách Thiên Chúa sao nở tàn ác với trẻ sơ sinh và gia dình mình.v.v...
Tất cả những điều ấy, nếu không có một sự khiêm tốn đặc biệt, nếu không có sự khôn ngoan và ơn Chúa giúp, thì chắc chắn, Thánh cả Giu-se cũng sẽ như những con người khác, oán trời, giận dữ với xã hội và buông xuôi mặc cho sự ác trong con người hoành hành.
Là gia trưởng của một gia đình kỳ lạ giữa nhân loại, Thánh cả Giu-se trở nên mẫu người khiêm tốn như Đức Mẹ Ma-ri-a, để trở thành cha mẹ tuyệt vời giáo dục Đức Chúa Giê-su trở thành “Đấng hiền lành và khiêm nhượng trong lòng.” (Mt 11, 28-30) .

3. Thánh cả Giu-se – con người Thầm Lặng.
Trong toàn bộ bốn sách Phúc Âm, thì chỉ có Phúc Âm của thánh Mát-thêu và thánh Lu-ca có nhắc đến tên của Thánh cả Giu-se mà thôi, nhưng không nhắc nhiều. Thánh Mát-thêu thì khen ngợi ngài là người công chính, thánh Lu-ca thì nhắc nhở ngài là con cháu của dòng tộc vua Đa-vít (Lc 2, 1-7)
, tuy nhắc rất ít đến ngài, nhưng đều nói lên nét nổi bật con người của ngài: người công chính và con cháu của hoàng tộc.
Là người đóng vai trò quan trọng cùng với Đức Mẹ Maria trong việc nuôi nấng và dạy dỗ Đức Chúa Giê-su, nhưng các thánh sử chỉ làm nổi bật vai trò cứu độ nhân loại của Đức Chúa Giê-su và Đức Mẹ Ma-ri-a, cũng như nhắc nhở rất nhiều đến các thánh tông đồ, mà không nói nhiều về Thánh cả Giu-se, bởi vì con người của Thánh cả Giu-se là con người thầm lặng, ngài chỉ muốn âm thầm phục vụ chứ không muốn lấn át vai trò của Đức Chúa Giê-su và Đức Mẹ Ma-ri-a, ngài biết mình chỉ là công cụ của Thiên Chúa dùng để tô điểm cho vai trò cứu chuộc thế gian của Đức Chúa Giê-su nổi bật giữa loài người. Là người phục vụ cách âm thầm trong căn nhà nhỏ nghèo nàn làng Na-da-rét, Thánh cả Giu-se đã trở nên bậc thầy dạy đàng nhân đức khiêm tốn cho các thánh học đòi bắt chước, là nguồn cảm hứng cho các thi nhân hết lời ca tụng sự khiêm tốn và thầm lặng của ngài, và là mẫu gương sống động cho bậc gia trưởng noi theo.
Con người ta không ai thích sự thầm lặng khi phục vụ, nhưng con người ta thích phô trương khi phục vụ, thích nói nhiều khi phục vụ, và thích chỉ trích phê bình người khác khi phục vụ, tại sao vậy ? Thưa, tại vì con người ta chưa đạt đến mức độ khiêm hạ như Thánh cả Giu-se.
Thời đại ngày nay, người ta dễ dàng khuếch đại âm thanh thật lớn khi làm một công tác từ thiện nào đó, để quảng cáo cho nghiệp đoàn hoặc cộng đoàn của mình, chứ không mấy ai có tinh thần phục vụ cách thầm lặng, bởi vì họ không có mẫu gương phục vụ âm thầm để noi theo. Nhưng người Ki-tô hữu thì có mẫu gương phục vụ thầm lặng tuyệt vời của Thánh cả Giu-se, nên các gia trưởng biết chăm nom gia đình con cái mà không la lối giận dữ, hoặc kể công kể trạng với vợ con mình; các thợ thuyền thuyền cố gắng chu toàn bổn phận của mình trong âm thầm mà không lớn tiếng khoe khoang, tất cả đều học đòi gương âm thầm phục vụ của Thánh cả Giu-se, người gia trưởng tuyệt vời của gia đình Na-da-rét.

4. Kết
Tháng Ba, tháng của Thánh cả Giu-se, Đấng bàu chữa Hội Thánh và là bổn mạng của các gia trưởng, là mẫu gương của mọi người, là Đấng cai quản kho tàng ân sủng của Thiên Chúa, thánh nữ Tê-rê-xa thành A-vi-la đã xác tín điều này: “Không có ai đến kêu xin cùng Thánh cả Giu-se mà trở về tay không”, đó là một kinh ngiệm lớn của thánh nữ, khi mà giữa những phong ba xảy đến trong đời tận hiến của thánh nữ, và phương pháp hay nhất và đầy khôn ngoan nhất là chạy đến với Thánh cả Giu-se, Đấng luôn là mẫu mực công chính cho mọi người.
Là người Ki-tô hữu, chúng ta cũng xác tín điều ấy: Thánh cả Giu-se cũng là một người được Thiên Chúa chọn để làm cho chương trình cứu độ của Ngài ở trần gian được hài hòa, và cao cả hơn, chính Thiên Chúa muốn chọn Thánh cả Giu-se làm mẫu gương của các gia trưởng, của những thợ thuyền, của những người đang gặp đau khổ trong cuộc sống, để nhờ Thánh cả Giu-se, mà họ biết được ân sủng và tình thương của Thiên Chúa chỉ ban cho những ai yêu sự công chính với tâm hồn khiêm tốn và thầm lặng trong việc phục vụ và vác thập giá của mình để theo Đức Chúa Giê-su.

Lạy Thánh cả Giu-se xin cầu bàu cho chúng con
là những người cha trong gia đình,
biết chu toàn bổn phận của người gia trưởng
để xây dựng một gia đình công giáo
hoàn toàn phù hợp với tinh thần Phúc Âm của Đức Chúa Giê-su.
Xin dạy cho chúng con là những thợ thuyền lao động,
biết chuyên cần làm việc
và biết thánh hóa công việc mình làm,
để danh Chúa được rạng sáng nơi mọi người,
khi họ nhìn thấy chúng con hết lòng chu toàn trách nhiệm.
Xin Thánh cả Giu-se cầu bàu cho chúng con,
là những linh mục của Đức Chúa Giê-su
đang phục vụ dân Chúa giữa một xã hội,
mà luân thường đạo lý chỉ là một nét chấm phẩy lạc lỏng giữa xa hoa và hưởng thụ.
xin cho chúng con biết noi gương Ngài,
để trở thành gia trưởng trong giáo xứ,
trở thành người anh em khiêm tốn thầm lặng trong cộng đoàn.
Và, sau cùng, xin Thánh cả Giu-se gìn giữ tất cả mọi gia đình trong và ngoài giáo xứ của chúng con,
để những ai chưa nhận biết tinh thần Phúc Âm,
thì sẽ nhìn thấy được tình yêu của Chúa qua
cuộc sống của gia đình chúng con. Amen


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
------------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện



 40.          SƠN LÂM VẮNG LẶNG

Có một quan lớn bãi chức trở về nhà, bèn mua sơn điền xây nhà ở để đáng được các ẩn sĩ đến thăm.

Ông ta mời đến một họa sĩ, vẽ một bức thắng cảnh lâm tuyền. Họa sĩ vẽ xong thì vẽ thêm một con trâu bên cạnh tô điểm cho thêm đẹp.

Quan lớn hỏi:

-      “Đây là ý nghĩa gì ?”

Họa sĩ trả lời:

-      “Không có con trâu này, e rằng sơn lâm quá vắng lặng, chán lắm”.

Mặt của quan lớn từ từ đỏ lên.

(Khán Sơn Các Nhàn bút)

 

Suy tư 40:

Vẽ cảnh sông núi thì nên điểm vài con chim bay trên trời, con trâu gặm cỏ giữa đồng.v.v...thì bức tranh mới sống động và đỡ...vắng lặng cô đơn hơn.

Có một vài nhà thờ to lớn đồ sộ giữa những căn nhà thấp lè tè lụp xụp thì nhà thờ vắng lặng lắm, và càng vắng lặng cô đơn hơn nữa khi nhà thờ đóng cổng, đóng cửa, sau khi thánh lễ kết thúc. Mà người càng cô đơn tội nghiệp nhất chính là Đức Chúa Giê-su, Ngài như người tù bị nhốt trong bốn bức tường to lớn của nhà thờ, cả ngày không ai đến viếng thăm, vì cửa nhà thờ đã bị khóa và cha sở giữ chìa khóa, cho nên giáo dân muốn đến viếng Chúa của mình thì rất khó khăn, bởi vì cha sở bận việc vắng nhà cả ngày, bởi vì vào gặp cha sở để xin mở cửa nhà thờ thì khó hơn là gặp cán bộ coi trại tù, thế là vắng lặng, chán lắm.

Nhà thờ vắng lặng và nhà thờ yên tĩnh thì không giống nhau: nhà thờ vắng lặng là không có ai lui tới, nên gọi là vắng như chùa bà đanh; nhà thờ yên tĩnh là có người lui tới, nhưng họ giữ yên tĩnh để gặp gỡ và nói chuyện với Đức Chúa Giê-su của mình.

Một vài cánh cửa của nhà thờ mở ra là dấu hiệu mời gọi mọi người đến, là tô điểm sự sống động, nên nhà thờ không còn vắng lặng cô đơn nữa. Ai mời gọi ? Đó chính là Chúa Giê-su mời gọi chúng ta đến với Ngài vậy !


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện



 39.          QUAN HUYỆN TAY DÀI

Có một tên quan thường thúc bá tánh đóng thuế rất khắc nghiệt, lại còn tìm trăm phương ngàn kế để bắt bí, để kiếm đầy túi tiền, cho nên bá tánh rất oán hận.

Có người làm một câu vè như sau:

-      “Tay của quan huyện rất dài”.

Quan huyện bắt người làm câu vè này ra tòa và nghiêm khắc tra hỏi, tác giả câu vè cười nói:

-      “Nếu lão gia tay ngắn làm sao có thể ôm được thái dương, nếu ôm không được thái dương, thì thiên không làm sao có thể hừng nắng, nếu thiên không không thể hừng nắng, thì người ta làm sao có thể gọi lão gia là thanh thiên ?”

Huyện quan cười lớn bèn tha tội cho anh ta.

(Khán Sơn Các Nhàn bút)

 

Suy tư 39:

Biết người ta chơi xỏ mình, oán hận mình, chửi xéo mình nên còng tay người ta, nhưng đến khi nghe họ tâng bốc mình thấu trời xanh, thì lại khoái chí và tha cho họ, thế mới biết lời nịnh hót thật có “uy lực” đáng nể thật.

Lời nịnh hót tâng bốc thì không bao giờ được xuất phát từ con tim chân thành, nhưng xuất phát từ đầu môi chót lưỡi.

Lời cầu nguyện của người Ki-tô hữu cũng vậy, nếu lời cầu nguyện không xuất phát từ con tim yêu mến, thì chẳng khác chi lời nịnh hót tâng bốc Thiên Chúa, mà Thiên Chúa thì đâu cần lời nịnh hót tâng bốc của chúng ta, Ngài chỉ cần chúng ta có một tâm hồn yêu mến và biết phó thác khi cầu nguyện là đủ rồi.

Lời cầu nguyện không chân thành là lời nịnh hót có tính nhạo báng Thiên Chúa toàn năng.

Lý do tại sao thì ai cũng biết rồi, nhất là những người thích khoe khoang bộ dạng bên ngoài khi dâng lễ cầu nguyện...


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện

 


38.          SUỐI NƯỚC LẠNH TIM LẠNH

Người nọ đi chơi ở chùa Linh Ẩn trở về nói với vợ:

-      “Tim tôi lạnh rồi”.

Vợ vội vàng hỏi tại sao, ông ta trả lời:

-      “Tôi vừa mới rửa tim trong đình suối nước lạnh trở về đây, nếu tim không lạnh thì suối cũng không lạnh”.

(Khán Sơn Các Nhàn bút)

 

Suy tư 38:

Những người đang yêu họ vẫn thấy nóng ấm dù thời tiết lạnh lẽo băng giá; những người thất tình, buồn bực trong lòng, họ vẫn luôn thấy tim lạnh lẽo dù cho thời tiết đang là mùa xuân. Thế mới biết, thời tiết lạnh hay nóng đều không ảnh hưởng đến trái tim, nhưng trái tim nóng hay lạnh thì đều rất có ảnh hưởng đến cuộc sống chung quanh.

Người có trái tim lạnh thì dửng dưng trước người bất hạnh, thờ ơ trước những bất công và xa lánh những anh em thất thế sa cơ, mà người có trái tim lạnh thì nhan nhãn trong xã hội hôm nay khi mà tình cảm được đo bằng tiền bạc, đạo đức được đo bằng chức quyền.

Người có trái tim nóng thì nhìn thấy nỗi bất hạnh của tha nhân cũng là sự bất hạnh của mình, thấy đau khổ của anh em là nỗi đau của mình, nên họ sẵn sàng chia cơm sẻ áo với tha nhân...

Người Ki-tô hữu thì có trái tim yêu thương của Đức Chúa Giê-su, cho nên khi làm bất cứ việc gì đem lại niềm vui và hạnh phúc cho tha nhân, thì họ đều làm vì Đức Chúa Giê-su. Mà trái tim yêu thương của Đức Chúa Giê-su thì không nóng nhất thời, không nóng theo thời tiết, nhưng nóng theo sự thúc bách của Chúa Thánh Thần.

Mà ân sủng đẹp nhất của Chúa Thánh Thần chính là đức ái vậy !


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện



 37.          “THI NHÂN” LUẬN THƠ

Ở thôn Thiên Thủy có một người thường tự phong cho mình là nhà thơ, động một tí là bình luận cao thấp thơ của người khác.

Một hôm, có một người bạn thơ cầm bài thơ đến nhờ ông ta chỉ giáo, ông ta bình luận rằng:

-      “Trước tiên không cần nói đến thơ, chỉ nhìn chữ này. , từng nét từng nét vang dội khác thường. Thơ hay, thơ hay !”

Nói xong, thì lấy ra tác phẩm thư pháp mà ông ta thường ngày rất thích, nói:

-      “Anh coi, thơ này kỳ diệu lắm, nét chữ nắn nót xinh xắn, nếu luận về cách dùng mực, thì nó sáng bóng biết bao, tươi đậm biết bao !”

(Khán Sơn Các Nhàn bút)

 

Suy tư 37:

Người tự khoe mình là người thấy rất rõ những khuyết điểm của người khác, nhưng lại nhìn không thấy ưu điểm của tha nhân; người tự khoe mình là người ưa thích bình luận cái tốt xấu bên ngoài của người khác, nhưng lại không thấy cái tài cái giỏi bên trong của tha nhân; người tự khoe mình là người đi “lòng vòng” bên ngoài để nhìn chứ không dám đi vào bên trong để thấy, cho nên họ khen chê cách phiếm diện...

Cái khó làm nhất của người kiêu ngạo là khen người khác cách thật lòng, cho nên họ thường tìm lý do xa xa như “chữ đẹp mực sáng” vô tội vạ, để chối bỏ bài thơ hay của người khác.

Cái khó làm nhất của người Ki-tô hữu là tự khoe mình, bởi vì họ rất hiểu lời dạy của Chúa Giê-su: “Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống” (Mt 23, 12a), không những hạ xuống ở đời này, mà cả đời sau trong hỏa ngục nữa.

      Khiếp thật !


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)