Thứ Hai, 25 tháng 7, 2022

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện



 XẤU HỔ KHI DÙNG LY NGỌC

Ngày xưa, Triệu vương có được một miếng ngọc Ư Điền rất đẹp, và sai người làm một cái ly (cốc) uống rượu để khi ai có công thì dùng ly ấy mà thưởng rượu.

Sau khi thành Hàn Đam được giải vây, Văn vương Triệu Huệ quỳ xuống dâng rượu bằng ly ngọc, chúc cho công tử nước Nguỵ (là Tín Lăng quân) được mạnh khoẻ, công tử nước Nguỵ thi lễ đáp tạ.

Lúc chuẩn bị dời về phía nam, Thành vương Triệu Hiếu cũng dùng ly ngọc ấy để chúc mừng công lao tướng sĩ. Người nước Triệu nếu dùng ly ngọc ấy để uống rượu một lần thì coi như là hơn được cả mười xe châu báu bổng lộc. Về sau, Triệu vương Thiên đem cái ly ngọc này thưởng rượu cho một tên tiểu nhân đã tự liếm đom (bệnh trỉ) cho mình uống một lần.

Không lâu sau, nước Tần tiến đánh nước Triệu, Lý Mục đánh lui được địch quân, Triệu vương lại dùng ly ngọc này để rót rượu tưởng thưởng tướng sĩ ba quân, nhưng các tướng sị đều giương cặp mắt lên mà nhìn, bởi vì không ai còn muốn uống rượu nơi cái ly ngọc ấy nữa.

(Úc Li tử)


Suy tư 80:

Lấy ngọc quý để làm thành cái ly uống rượu thì dù cho rượu không ngon cũng trở thành ngon, mà nếu được nhà vua dùng ly ngọc này thưởng rượu, thì quả là hạnh phúc và vinh dự vô cùng.

Đời sống tâm linh của người Ki-tô hữu đều ở nơi thánh lễ, bởi vì nơi thánh lễ chúng ta được tham dự Mình và Máu Thánh của Chúa Ki-tô, là nguồn của mọi ân sủng.

Khi đi tham dự thánh lễ thì người mà giáo dân nhìn thấy rõ ràng nhất chính là linh mục chủ tế, bởi vì ngài là vị chủ tế thánh lễ, bởi vì ngài đang đứng trên cao kia nơi bàn thờ, uy nghiêm và thánh thiện, cho nên –có thể nói- giáo dân chưa thấy Chúa thì đã thấy linh mục trước tiên, rồi từ thấy linh mục chủ tế, họ thấy Đức Chúa Giê-su đang hiện diện trên bàn thờ.

Linh mục là cái ly (cốc) ngọc chứa đựng Mình Máu Thánh của Chúa, bởi vì từ nơi ngài, giáo dân đón nhận các ơn lành của Chúa ban cho họ, cho nên, khi giáo dân đi dự lễ mà họ thấy một linh có đời sống bê bối, kiêu ngạo, hách dịch dâng lễ, thì họ cảm thấy “ăn uống không ngon” khi tham dự tiệc Thánh Thể, họ cảm thấy tâm hồn bức xúc và rất gượng ép khi dự lễ với một linh mục như thế làm chủ tế.

Đó cũng chính là một trong nhiều nguyên nhân khiến cho giáo hữu “giương cặp mắt lên mà nhìn”, bởi vì không ai muốn uống rượu (thánh lễ) nơi cái ly ngọc (linh mục) ấy nữa, bởi vì cái ly ngọc đã không còn tinh sạch nữa.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 


Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

Tướng quân mít đặc


TƯỚNG QUÂN MÍT ĐẶC
Thời đầu Bắc Tống, tướng quân Vương Cảnh Hàm đã làm quan huyện trưởng Hình châu.
Một hôm, sứ thần tên là Vương Ban nhận lệnh đến Hình châu, Vương Cảnh Hàm bày tiệc mừng ông ta. Trong tiệc, Vương Cảnh Hàm cho rằng “vương ban” là tước vị, cho nên cứ thế mà buộc miệng lớn tiếng gọi tên huý của ông ta.
Thủ hạ nói với ông ta:
-      ”Vương Ban” là tên của sứ thần đấy !”
Vương Cảnh Hàm cảm thấy mắc cở khó chịu, bèn răn dạy tên thủ hạ:
-      “Tại sao các người không báo cho tao biết trước”.
Khách dự tiệc ngồi chật bàn liền cười lên như vỡ chợ.
                                (Mẫn Thuỷ Yến Đàm lục)

Suy tư:
Không biết mà cứ làm ra vẻ ta đây thì chỉ có nước làm trò cười cho thiên hạ.
Không hiểu mà cứ làm như ta đây thông thạo mọi thứ, thì chỉ tổ làm cho thiên hạ thêm chán ghét.
Ở đời có rất nhiều người có quyền, có địa vị, nhưng lại “dốt mít đặc”, họ “dốt mít đặc” không phải là họ không có học hành, không phải là họ không hiểu, nhưng bởi vì họ quá kiêu căng hợm hỉnh trong chức vụ của mình.
Có những người mới được đề bạt làm trưởng phòng, thì đã dương dương tự đắc ra lệnh này lệnh nọ, đổi cái này sửa cái kia trong văn phòng theo ý của mình, mà không nhìn thấy ai cũng khó chịu vì tư cách của mình, họ không chịu khiêm tốn nên trở thành “chướng mắt” mọi người.
Có một vài linh mục mới được bổ nhiệm làm cha sở thì đã “ăn to nói lớn” tuyên bố rùm beng, đòi bỏ cái này thêm cái nọ trong nhà thờ, thay người này thế người kia trong giáo xứ, làm cho giáo dân hoang mang và dễ dàng gây chia rẻ nội bộ, là mở đường cho quỷ sa tan đi vào tung hoành trong giáo xứ của mình.
Không ai muốn mình trở thành “người mít đặc” nhưng lại không ai chịu sửa đổi tính kiêu căng, phách lối nơi mình; ai cũng muốn mình trở thành người khôn ngoan thông thái, nhưng mấy ai chịu nghe lời góp ý chủa người khác mà điều chỉnh lại cách sống và làm việc của mình !

Hết tập 4
-------------------------


Dịch và viết suy tư xong, ngày 10.03.2003

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

Mánh khóe bịp rượu


MÁNH KHOÉ BỊP RƯỢU
Lý Lương không tin Phật và cũng không thích Mạnh tử, tính cách thanh cao, chữ nghĩa tiếng tăm bao trùm thiên hạ, lâu nay chỉ thích uống rượu.
Một lần nọ, có một vị đại quan gởi đến tặng ông ta rất nhiều rượu, vừa đúng lúc rượu của nhà ông ta hết cạn, nhưng ông ta lại không mời quan lớn và những người quyền quý uống rượu.
Có một người tham uống rượu, sau khi biết tính tình của Lý Lương, liền viết mấy bài thơ chửi Mạnh tử và đến thăm, quả nhiên Lý Lương rất phấn khởi và mời hắn ta ở lại uống rượu liếp tiếp nhiều ngày, cho đến khi uống hết rượu rồi mới cáo từ ra về.
Qua một thời gian sau, người ấy biết Lý Lương lại có rượu, bèn viết ba bài văn chửi Thích Ca Mâu Ni đem tặng cho Lý Lương, Lý Lương coi xong bèn cười cười nói:
-         “Văn chương rất hay, nhưng tôi không thể mời ngài ở lại uống rượu, rượu lần trước đều mời ngài uống thì hết rồi ạ, rượu lần này tôi còn giữ lại để mình tôi tiêu khiển chứ ?”
                                          (Phủ Chưởng lục)

Suy tư:
     Người ta thường nói “gió chiều nào thì ngã theo chiều ấy” để châm biếm những người thức thời, và cũng để chê những người thích nịnh kẻ khác.
     Có những chính khách là Ki-tô hữu, nhưng khi đi vận động tranh cử thì cũng đến các chùa miếu bái bái lạy lạy để lấy phiếu của cử tri, họ muốn được phiếu của cử tri hơn là phiếu vào thiên đàng; có những Ki-tô hữu khi gia cảnh nghèo thì trong nhà treo nhiều tượng ảnh thánh rất đẹp và trang trọng, nhưng khi làm ăn khá giả, xây nhà mới, thay vì treo tượng ảnh thánh như trước kia, thì bây giờ họ treo đầy những tranh ảnh lố lăng, những hình ảnh của các minh tinh màn bạc, họ lý luận là đạo trong lòng, nên theo hợp với thời đại mà trang hoàng nhà cửa !
     Ngã theo chiều gió là những người “yếu bóng vía”, những người Ki-tô-hữu-không-có-đức-tin, hoặc là những người coi việc thờ phượng Thiên Chúa như là một phong trào thời trang, thích thì đi nhà thờ, không thích thì không đi, cho nên khi có bách hại bắt bớ đạo thì thôi khỏi đến nhà thờ, khỏi kinh kệ, khỏi lần hạt Mân Côi và dĩ nhiên là khỏi lãnh các bí tích, đến lúc này thì họ nói: “Phải thức thời mà sống !”

“Lạy Đức Chúa Giê-su, đã nhiều lần con đã “thức thời” mà sống, nên con đã không sống xứng đáng là một mục tử của đàn chiên Chúa: thấy thanh thiếu niên nhậu nhẹt, con đã “thức thời” cùng uống với họ, và cũng có khi tranh chấp với họ trong việc tửu lượng nhiều hay ít; thấy xã hội đua đòi hưởng thụ, con cũng đã “thức thời” trau chuốt bản thân, mua sắm hưỡng thụ còn hơn người khác... Xin Chúa ban cho con có một tâm hồn biết “thức thời” trước những đau khổ của người bị áp bức, “thức thời” trước những bất hạnh của người nghèo, “thức thời” trước những âu lo của trẻ thơ. Để con biết đưa tay ra nối tiếp tình thương của Chúa cho tha nhân. Amen.”

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư 

Làm thơ giải sầu dưới tuyết


LÀM THƠ GIẢI SẦU DƯỚI TUYẾT
Tống Triết Tôn vào cuối năm bổng nhiên nổi lên giận dữ, những người phục vụ không biết làm thế nào để cho ông ta vui vẻ phấn khởi, chỉ có cách là đi lại với các sứ thần của các nước xin họ làm thơ, để dâng cho Triết Tôn giải buồn.
Một ngày nọ tuyết rơi rất nhiều, lại đi hỏi người nhà hôm nay có tác phẩm nào mới, có một sứ thần vừa mới làm được hai câu thơ: “Ai đem lông ngỗng tảo khắp trời, ngọc hoàng đại đế đi buôn muối”, liền vội vàng đem dâng cho Triết Tôn.
Hoàng đế vừa xem, quả nhiên cười rất lớn.
                                          (Phủ Chưởng lục)

Suy tư:
     Nói hoàng đế đi buôn muối mà hoàng đế lại cười ha ha chứ không giận dữ thì đúng là vị hoàng đế bình dân thích hài hước và gần gủi tha nhân, mặc dù hoàng đế không có học qua khoá tu đức này hay tham dự khoá linh thao nọ...
     Không ai học tu đức nhiều cho bằng các linh mục, cũng không ai hiểu biết linh thao cho bằng các tu sĩ nam nữ, nhưng có một số trong các vị đó sống rất...xa tu đức, bởi vì có giáo dân thấy cha sở của mình thì “lủi” đi chỗ khác không muốn chạm mặt; có người không bao giờ đến nhà xứ nơi cha sở ở nếu không có việc liên quan đến các bí tích ! Lí do rất dễ hiểu, đó là vì có một số các ngài quá “quan liêu” trong cách sống và quá kiêu căng trong cách đối xử với tha nhân.

Tôi còn nhớ một câu nói của một linh mục lớn tuổi nọ đã nói với tôi: “Ông cha thì gỏ ba búa, ông thầy bà sơ thì gỏ hai búa, giáo dân thì gỏ một búa”. Ý của vị linh mục này nói là cứng cổ nhất là các linh mục, cứng cổ thứ nhì là các tu sĩ nam nữ, cứng cổ thứ ba và cũng là cuối hết là các giáo dân. Như vậy, xét cho cùng thì giáo dân là những người tuy không học tu đức và linh thao, nhưng đã sống rất gần gủi với ơn gọi nên thánh của mình.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư 

Phương thuốc ra mồ hôi


PHƯƠNG THUỐC RA MỒ HÔI
Có người nọ tên là Tiền Duật mỗi khi lên cơn sốt tiết ra mồ hôi mà cũng khiêng vác đồ đạc nặng đi rất xa, nhưng đợi cho mồ hôi hết thì bệnh cũng hết.
Có người nói:
-         “Phương thuốc ra mồ hôi” này nên xếp vào viện ngự dược, để truyền lại cho người “ăn không ngồi rồi” ra mồ hôi”.
                                           (Phủ Chưởng lục)

Suy tư:
     Có người khuân vác nặng nề nhưng không ra mồ hôi, có người chỉ mới nóng một chút là mồ hôi chảy ra đầy mình, lại có người dù trời nóng dù trời lạnh một giọt mồ hôi cũng không có, đó chẳng qua là theo “cái tạng” của họ.
Phương thuốc dành cho người “ăn không ngồi rồi” là sự lao động, bởi “ở không” là đầu mối mọi tội.
Có người nhà có của ăn của để nên không thích làm việc gì cả, do đó mà hay đi phê bình chuyện của người khác, soi mói công việc của người ta; có người mặc dù nhà nghèo, nhưng vì sợ lao động nên không làm gì cả, cả ngày chỉ biết uống rượu, tụm ba tụm bảy để đấu láo và cãi vả rồi nảy sinh mâu thuẩn với nhau gây phiền phức cho gia đình...
Ba mươi năm sống ở Na-za-rét, Đức Chúa Giê-su đẵ học được nghề thợ mộc nơi cha nuôi của mình là thánh cả Giu-se, và biết đâu Ngài cũng học được nghề thêu thùa hay nấu cơm như Đức Mẹ Ma-ri-a, có nghĩa là Ngài cũng làm việc để nuôi thân, giúp đỡ cha mẹ, và biết đâu Ngài cũng có tiền để bố thí cho người hàng xóm nghèo bên cạnh.
Đem “phương thuốc ra mồ hôi” cho những người “ăn không ngồi rồi” uống, không gì khác hơn là để họ thất bại một lần trong đời, để họ nghèo đói một lần thì họ “toát mồ hôi hột” khi đi kiếm miếng cơm manh áo, để họ biết thông cảm với những nhục nhằn của người nghèo mà không ăn không ngồi rồi nữa.

Ở dưng chính là cội rể mọi sự dữ.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư 

Chỉ có Hải Đường tỏa hương


CHỈ CÓ HẢI ĐƯỜNG TOẢ HƯƠNG
Lý Chu vì không được sai phái công vụ nên ở miết trong thành gần một năm.
Về sau được bổ đi làm phó huyện Xương châu, bèn bàn bạc cùng bạn bè, tất cả đều cho rằng Xương châu cách nhà quá xa, bèn đề nghị đổi chỗ khác, thế là đổi qua làm phó huyện Ngạc châu .
Có người tên là Uyên Tài đến gặp Lý Chu, nói:
-         “Ngài đổi làm phó Ngạc châu à, có chuyện này hay sao ?”
Lý Chu đáp:
-      “Có chứ”.
Uyên Tài thở dài, tức giận nói:
-         “Ai đã giúp cho ngài đề ra cái chuyện này ? Xương châu là một quận huyện đất đai tốt nhất ! Tại sao ngài còn không đi lại còn chần chừ gì nữa chứ ?”
     Lý Chu có chút kinh ngạc, nói:
-  “Ở đó cung cấp rất đầy đủ sao ?”
-    “Không phải”.
-    “Như vậy thì dân chúng ở đó ít kiện cáo sao ?”
-    “Cũng không phải”.
Lý Chu nói:
-         “Vậy thì sao ngài lại nói Xương châu là nơi rất tốt ?”
     Uyên Tài trả lời:
-         “Ngài thì cái gì cũng không biết, lúc mà những chỗ khác Hải Đường không nở hoa toả hương, thì ở Xương châu Hải Đường lại một mình toả hương, lẽ nào như thế không phải là cái quận tốt nhất hay sao ?”
     Lý Chu cười lớn ha ha.
                                           (Phủ Chưởng lục)

Suy tư:
     Chỉ vì một bông hoa Hải Đường nở trái mùa mà cho là một huyện tốt lành, thì chỉ có người phong lưu công tử, thích tức cảnh làm thơ mới nghĩ như thế...
     Chỉ vì cái huyện quá xa nhà mà không thèm đến nhậm chức, thì chỉ có những người vì “vinh gia phì thân” mà ra làm quan, chứ không phải yêu nước yêu nòi mà ra làm quan...
     Có một vài linh mục không muốn vâng lệnh giám mục hay bề trên đi đến những nơi thôn quê nghèo, những nơi vùng cao vùng sâu xa cách thành phố, vì ở đó không có internet, không có náo nhiệt, thiếu thốn như ở thành phố... Các linh mục này không phải đi truyền giáo, cũng chẳng phải yêu thương chi đoàn chiên, lại càng không phải vì yêu đời truyền giáo mà làm linh mục, nhưng là vì yêu thương bản thân của mình “vinh gia phì thân” mới làm như thế...

     Giáo dân dù thương mến các linh mục đến cở nào đi chăng nữa, nếu vị linh mục của họ không muốn vâng lời bề trên, thì họ cũng sẽ mất dần sự kính trong nơi các linh mục ấy. Bởi vì chính các linh mục là “đầu tàu’ gương mẫu cho đoàn chiên của mình, là “Chúa Ki-tô thứ hai” biết vâng phục thánh ý Cha trên trời qua vị giám mục, hay qua các bề trên của mình.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư 

Thứ Năm, 8 tháng 1, 2015

Bộ xương lịch sự


BỘ XƯƠNG LỊCH SỰ
Vương Phủ Vân tự là Câu, vừa cao vừa gầy, nhưng rất chú trọng đến việc ăn mặc, bạn bè thường gọi đùa là “bộ xương lịch sự”.
Vào cuối năm Sùng Ninh, tại phủ Kim Lăng, Bắc Ninh có triệu tập tất cả các nữ tì của quan phủ, có một cô cũng vừa cao vừa rất gầy, quan phủ Chu Thế Xương coi xong liền nói với người bên cạnh:
-         “Ngài quen biết với “bộ xương người đẹp đẽ” này chứ ?”
Người ấy nói:
-      “Có quen, cô này rất xứng hợp với Vương Câu”.
                                           (Phủ Chưởng lục)

Suy tư:
     Lịch sự theo giải thích của quyển đại từ điển tiếng Việt như sau: “Lịch sự là có cách tiếp xúc, xã giao phù hợp với phép tắc mà xã hội thừa nhận.”
     Có người vì muốn tỏ ra mình là người lịch sự nên từ thái độ cung cách trở thành lố bịch, khách sáo trống rỗng; có người khi mặc áo quần thì quá chú trọng đến hình thức bên ngoài, vì cứ tưởng cho đó là lịch sự, nhưng thật ra bắt người khác đứng chờ đợi mình mất cả thời gian là đã quá không lịch sự rồi; lại có người lịch sự hơn vào trong nhà thờ thấy người quen biết thì chạy tới bắt tay lắc lắc, nói nói cười cười mất cả sự tôn nghiêm của mọi người đang dự thánh lễ...
     Có lịch sự mà không có đạo đức nhân bản Ki-tô giáo thì chỉ là hình thức xã giao bên ngoài, bởi vì có nhiều người khi giữa đám đông thì ăn nói lịch sự, nhưng lại lỗ mãng nơi ít người...
     Quá chú trọng đến vấn đề lịch sự xã giao mà quên mất đi tính cốt lõi của tình người, thì lịch sự ga lăng như Mỹ như Tây cũng chẳng ích gì cho ai, trái lại càng làm cho người khác xa lánh, chỉ vì mình chỉ có cái “mả tô vôi bên ngoài” mà thôi.

     Không trở thành bộ xương lịch sự, nhưng trở thành con người lịch sự từ trong tâm hồn.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư 

Nửa sống nửa chín



NỬA SỐNG NỬA CHÍN
Con gái phương bắc đẹp, nhưng cử chỉ rất cứng cỏi, người trí thức gọi là “sống Trương Bát”.
Năm nọ ở phủ có hội, Khấu Trung Uý ra lệnh cho người đến nhờ Ngụy Dã thảo thơ, Ngụy Dã làm thơ, viết:
-         “Vua vì bắc đạo sống Trương Bát, tôi là Tây châu chín Nguỵ Tam, không trách Tôn Tiền không cười nói, nửa sống nửa chín chưa thông thạo”.
Người liên lạc đến lấy cầm về coi, những người khách đều cười ha ha.
                                           (Phủ Chưởng lục)
Suy tư 95:
     Thông thường mà nói:
Con gái đẹp thì thường có tính kiêu kiêu, nhất là con gái ấy là con của nhà giàu, thôi thì tha hồ mà kiêu căng, kén chọn...
     Con gái đẹp thì thường có tính ích kỉ, không thích ai đẹp hơn mình.
     Con gái đẹp thì thường có tính lãng mạn.
     Con gái đẹp thì thường là...làm biếng, vì sợ mất đẹp.
     Con gái đẹp thì thường là rất hiền và rất xung, hiền là khi người ta khen mình đẹp, xung khi người khác chê mình xấu...
     Con gái đẹp thì không hẳn là dễ thương và đáng yêu.
     Cho nên, người ta thường nói : “Cái nết đánh chết cái đẹp” là để đề cao cái nết nơi người con gái, dù cho cô gái đẹp cỡ nào mà không có “cái nết” thì cũng chỉ để cho người ta nhìn như nhìn một bông hoa đẹp mà mùi thì rất khó ngửi...
     Cái đẹp chỉ được hoàn hảo khi cô gái biết sống như Lời Chúa đã dạy đó là biết phục vụ trong yêu thương.
     Cái đẹp chỉ được hoàn hảo khi cô gái biết tập tành đức khiêm tốn như Đức Maria...
    

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư 

Râu lớn râu nhỏ



RÂU LỚN RÂU NHỎ
Tôn Cách Lão, Tôn Cự Nguyên cùng nhậm chức trong sứ quán, lại vừa là cử nhân, do đó mà các chức viên trong sứ quán rất khó mà gọi và xét đoán, bèn thỉnh giáo với Liễu Cống Phụ.
Liễu nói : “Tại sao không căn cứ vào râu của họ mà xét đoán ?”
Các chức viên nói : “Ai cũng có râu cả, làm sao mà phân biệt được ai là ai chứ ?”
Liễu Cống Phụ nói : “Tại sao không căn cứ vào vóc dáng cao thấp của họ để mà xét đoán ?”
Thế là các chức viên trong sứ quán đều gọi Tôn Cách Lão là Tôn cử nhân râu lớn, gọi Tôn Cự Nguyên làTôn cử nhân râu nhỏ.
                                           (Phủ Chưởng lục)

Suy tư:
     Chuyện râu lớn và râu nhỏ cũng giống như hai em bé nói đến chuyện người nọ có hai bà vợ :
Em bé A hỏi : Sao ba tao chỉ có một vợ mà ông kia lại có hai vợ ?
Em bé B nói : Là tại vì ông ta thích lấy nhiều vợ.
Em bé A lại hỏi : Vậy thì ông ta không sợ Chúa phạt sao ?
Em bé B nói : Thì Chúa phạt rồi đó, hai bà vợ ngày nào cũng chửi nhau, con cái của họ thì đi bụi, còn ông thì ngày nào cũng ra quán uống rượu đến say mèm...”

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư 

Thấy áo khóc cha



THẤY ÁO KHÓC CHA
Thạch Trung Lập rất hay đùa cợt.
Một ngày mùa hè nọ, đi đến nhà Văn Công tham gia lễ tống táng, có rất nhiều hiền sĩ nổi tiếng trong giới văn học cũng đến, tất cả đều mặc áo trắng vải lót, có điều là chất liệu thì không giống nhau, có người mặc thì là vải lụa, có người mặc thì là vải dệt.
Trung Lập đột nhiên khóc lớn tiếng, người ta bèn hỏi anh ta làm sao lại thương tâm như thế, anh ta nói:
-         “Nếu phụ thân tôi còn sống, thì nhất định tôi sẽ mặc áo trắng vải lót bằng vải lụa.”
Mọi người nhìn anh ta, thì quả thật Trung Lập đang mặc một cái áo vải lót bằng vải dệt thì cười thầm...
                                           (Phủ Chưởng lục)

Suy tư:
     Hồi còn học tiểu học, cứ mỗi ngày vào lớp học, thì nữ tu chủ nhiệm bắt chúng tôi phải viết và thuộc lòng một câu cách ngôn trên bảng, tôi còn nhớ câu này : “Con có cha như nhà có nóc”, nhà thì phải có cái nóc, nếu không có cái nóc thì không thể an toàn trú ngụ bên trong, nếu nhà không có nóc thì vẫn còn thua cái trại chăn vịt.
     Trong gia đình, người cha là trụ cột chính của cả nhà, tình thương của người cha không như của mẹ, không như có nghĩa là không bộc lộ ra bên ngoài, nhưng trong lòng cha thì đấy ắp yêu thương đối với con cái. Người ta thường làm thơ, viết sách ca ngợi người mẹ, nhưng rất ít ca tụng người cha, cũng giống như trong Phúc Aâm rất ít nhắc đến thánh cả Giu-se, tuy ít nhắc đến, nhưng ai cũng đều biết vai trò quan trọng của thánh Giu-se đối với Đức Mẹ  Ma-ri-a và Đức Chúa Giê-su.
     Có nhiều người con coi thường cha của mình vì ông ta không làm ra tiền như bà mẹ; có nhiều người con hất hủi cha mình vì ông ta có cái tật thích uống rượu; có những đứa con không thích nhắc đến cha mình giữa đám đông vì ông ta bị bệnh tâm thần.v.v...
     Ai không yêu thương và kính trọng cha mình thì không thể yêu thương và kính trọng người khác được, và càng không thể làm một người cha tốt lành của con cái sau này.
     “Con có cha như nhà có nóc”, nhà mất nóc thì làm lại được, chứ con mất cha thì không thể nào kiếm lại được người cha thứ hai, đó là sự thật.

“Lạy Thánh Cả Giu-se là Đấng bảo trợ các gia đình, xin cầu cùng Chúa cho chúng con là những người làm cha trong gia đình, biết nuôi nấng dạy dỗ con cái nên người Ki-tô hữu tốt, xin Thánh Cả dạy chúng con biết kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân như Chúa dạy, để chúng con trở thành tấm gương sáng cho con cái noi theo. Amen.”

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư 

Hài hước của cử nhân



HÀI HƯỚC CỦA CỬ NHÂN
Cử nhân Thạch Mạn Khanh thích uống rượu làm thơ, ăn nói hài hước.
Một hôm, khi đi dạo ở chùa Báo Ninh, vì người đánh ngựa sơ suất nên ngựa kinh hoàng nhảy lên, khiến cho cử nhân Thạch té xuống ngựa, đám tuỳ tùng lập tức đỡ ông ta dậy.
Rất nhiều người nhìn thấy cảnh ồn ào, thì cho rằng ông ta sẽ chửi mắng người đánh ngựa, nhưng không ngờ ông ta chỉ chỉ con ngựa và nói với người đánh xe:
-          “May mà ta là cử nhân Thạch (đá), nếu là cử nhân Đất thì té nát vụn rồi còn gì !”
                                          (Phủ Chưởng lục)

Suy tư:
     “May mà thầy ấy, cha ấy đi tu, nếu ở đời thì chán khối cô chết mệt...”
“May mà Xơ ấy đi tu, nếu mà ở đời thì nũng nịu và điệu chịu không nổi...”.
Đó là những câu mà chúng ta thường nghe các cụ các bà nói khi có một thầy, một Xơ hay một linh mục nào đó có chút...tài sắc...          
Chúng ta cảm tạ Chúa đã chọn các linh mục, các thầy và các dì phước ấy làm môn đệ riêng cho mình để các vị ấy đem lòng thương xót của Chúa truyền bá cho mọi người như họ đã cảm nghiệm được qua cuộc sống hiến dâng.
Có những người Ki-tô hữu tự kềm chế được cơn nóng giận của mình và nói: “May mình là người Công Giáo, nếu không thì xảy ra nhiều chuyện đáng tiếc...”
Nếu trước khi cơn nóng giận xảy đến mà mỗi một linh mục tự nói: “Tôi là một linh mục của Chúa Ki-tô, tôi phải sống hiền lành...”  thì có rất nhiều việc tốt đẹp kỳ diệu sẽ xảy ra sau đó, mà điều kỳ diệu nhất sẽ xảy ra là các tín hữu nhìn thấy vị mục tử của mình hiền lành giống Chúa Ki-tô vậy !
Nếu sau khi không kềm được cơn nóng giận của mình, ước gì mỗi linh mục tự khiêm tốn nói với mình: ”Tôi là linh mục của Chúa Ki-tô, tôi phải sửa chữa sai lầm của tôi...”  thì phép lạ tức khắc sẽ xảy ra, đó là các ngài sẽ yêu Chúa hơn và hăng say phục vụ tha nhân hơn trong bổn phận của mình.
“May mà tôi là linh mục, là tu sĩ nam nữ của Chúa, nếu không, thì tôi sẽ trở nên tồi tệ hơn bây giờ...”, “May mà tôi là người Công Giáo, nếu không, thì tôi sẽ là người xấu xí tội lỗi nhất đời...”

     Đó không phải là những câu nói hài hước nữa, nhưng là như một lời nhắc nhở chúng ta sống đẹp với Chúa và với tha nhân.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư 

Quan, tặc như nhau



QUAN, TẶC NHƯ NHAU
Ở Phúc Kiến có một người chuyên nghề hải tặc tên là Trịnh Quảng, về sau bị bắt, đầu hàng quan phủ, lại còn được làm quan.
Những người cùng làm quan với hắn ta, cương quyết bắt hắn ta phải làm thơ, hắn ta làm sao mà biết làm thơ được chứ, nên chắp vá lung tung, nói vè:
-         “Đừng hỏi quan văn với quan võ, chỉ là như nhau. Các quan đã làm quan thì làm tặc, Trịnh Quảng đã làm tặc thì làm quan”.
                                           (Phủ Chưởng lục)

Suy tư:
Theo thói đời, không một ai dễ dàng chấp nhận một người có bề dày thành tích bất hảo lại cùng được ở vai vế với mình trong cùng một địa vị, mà nếu vì bất đắc dĩ mà phải ngang hàng thì cũng tìm cách nói xấu hoặc bôi nhọ danh dự hay khinh bỉ họ. Thói đời là như thế !
Theo thói ”trời” thì không phải như thế, Đức Chúa Giê-su đã hứa Nước Trời cho người tên ăn trộm cùng bị đóng đinh với Ngài, mà thánh Stê-pha-nô thì vì Chúa mà bị ném đá đến chết, nhưng ngài không kiện cáo: “Sao con vì Chúa mà chịu ném đá đến chết mà cũng bằng tên ăn trộm thôi sao ?”, Đức Chúa Giê-su cũng đã làm cho Mát-thêu người thu thuế tội lỗi trở thành tông đồ ngang hàng với các vị khác mà không có ai trong các tông đồ nói: “Ông là thằng thu thuế tội lỗi, bây giờ cũng tông đồ như chúng tôi sao ?”; Đức Chúa Giê-su cũng đã khen Ma-ri-a Mag-da-la khi cô ta dùng thuốc thơm quý giá xức chân của Ngài mà không một phụ nữ nào phân bì so đo...
Có những lúc chúng ta không thèm cộng tác với những anh em thua kém mình về tài năng, học vấn, nhưng chính mình thì lại thích muốn cộng tác với những người “có máu mặt” danh phận gấp mấy mình...
“Thói đời” và “thói trời” không giống nhau, nhưng  cuộc sống của người Ki-tô hữu thì rất giống với mọi người, chỉ khác nhau có một điểm là: họ luôn nhìn thấy Chúa trong con người của tha nhân, và nhất là với những ai đang cùng cộng tác với họ...

     Bởi vì làm quan và làm tặc thì không thể như nhau, nhưng người làm quan có thể làm tặc và người làm tặc cũng có thể là vị quan tài ba.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư 

Đặt mũ trên đầu nhà sư



ĐẶT MŨ TRÊN ĐẦU NHÀ SƯ
Có một lần, ở Tứ Xuyên có Văn Giám đại sư hòa thượng rất nổi tiếng đang tiếp kiến hai vị chủ bộ họ Trương và họ Đường ở Hoa Dương.
Sau khi phân ngôi thứ chủ thì Đường chủ bộ bất ngờ ngứa đầu muốn gãi chút xíu, nhưng nhìn trước nhìn sau, nhìn phải nhìn trái mà không có chổ để đặt mũ, chợt liếc mắt nhìn thấy trên đầu của Văn Giám đại sư sạch bóng, bèn lấy cái mũ cánh chuồn trên đầu mình xuống đặt trên đầu của nhà sư
Người xuất gia cảm thấy bị nhục mạ bèn kêu ầm lên, Trương chủ bộ lập tức khuyên giải, Văn Giám đại sư mới nể mặt ngồi xuống, không bằng lòng nói : “Tôi và vị quan này vốn không quen biết nhau, tại sao làm cái trò ác thế chứ ?”
Đường chủ bộ nói : “Vừa rồi cái đầu tôi nó ngứa ngáy khó chịu, sau khi lấy mũ ra thì không có chổ để đặt nó, nhìn thấy trên đầu đại sư không có gì, thế là muốn bỏ tạm cái mũ, không ngờ đại sư lại nổi giận như thế !”
                                           (Phủ Chưởng lục)

Suy tư :
     Người xuất gia cảm thấy bị nhục mạ vì bị người khác ...rờ trên đầu ; người thanh liêm cảm thấy bị nhục mạ khi có người đem tiền bạc đến đút lót ; người quân tử cảmh thấy bị nhục mạ khi có kẻ tiểu nhân vu khống cho mình...
     Ai cũng có cái tôi của mình, nên ai cũng cảm thấy bị nhục mạ khi người khác bôi nhọ thanh danh của mình.
     Người Kitô hữu cảm thấy bị nhục mạ khi người khác phỉ báng đạo của mình, niềm tin của mình, nhưng cái bị nhục mạ này không hạ giá con người của họ, trái lại nó càng làm cho họ có dịp trưởng thành hơn trong đức tin của mình. Chúa Giêsu đã bị nhạo báng, nhục mạ, chửi bới đánh đập, bị khạc nhổ, bị đánh đòn và cuối cùng bị đóng đinh chết trên thập giá, hỏi còn cái nhục nào hơn thế nữa chứ, trong khi Ngài là thân phận của một vị Thiên Chúa làm người ? Nhưng cái nhục của Chúa Giêsu hứng chịu chính là khi chúng ta -con cái của Ngài- lấy bùn trát vào mặt Ngài bằng những tội lỗi của mình : tội kiêu căng với anh chị em, tội vu khống cáo gian người khác, tội gian dâm ngoại tình, tội ghét ghen và ích kỉ với tha nhân...

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư 

Trời lạnh giữa khuya



TRỜI LẠNH GIỮA KHUY
Lúc Tô Đông Pha ở hàn lâm viện, một hôm ông giở sách “A Phòng cung phú” của Xã Mục ra đọc, thưởng thức mùi vị trong văn chương mà cảm thán, gần nửa đêm rồi mà vẫn còn chưa đi ngủ.
Có hai anh lính già là thủ hạ làm việc cho Đông Pha, thấy Đông Pha chưa ngủ, họ cũng chỉ biết đứng bên ngoại đợi ông ta, đợi rất lâu, chịu không nổi bèn than thở, anh lính tên Giáp nói:
-         “Đọc cho nhiều trang nhiều sách thì có ích lợi gì chứ ?”
Trong lời nói cố ý trách Đông Pha giữa khuya trời lạnh mà còn chưa đi ngủ.
Anh lính tên Ất nói:
-      “Cũng có hai câu lợi”.
Anh lính Giáp nổi giận:
-      “Anh lĩnh hội câu nào ?”
Anh lính Ất nói:
-         “Tôi rất thích ông ta nói câu này: “Người trong thiên hạ không dám nói mà chỉ dám nổi giận”.
Tô Đông Pha nghe câu nói này thì cười lớn nói:
-      “Tên này thật có kiến thức”.
                                           (Phủ Chưởng lục)
Suy tư:
     Có nhiều người, vì muốn cho người khác biết mình là người có kiến thức, có học vấn, có bằng cấp nên thường hay lăng xăng rờ cái này, đụng cái kia, chê cái này, khen cái nọ trước mặt mọi người, nhưng thật ra thì họ không được ai phân công làm một công việc gì cả.
     Đôi lúc chỉ một câu nói mà người ta có thể biết được mình là người có kiến thức hay không, bởi vì người thật có kiến thức thì không cần phải ăn to nói lớn, không cần phải phê bình cái này hay cái kia dở, nhưng là người biết nói và biết im lặng đúng nơi đúng chỗ.
     Có một vài thầy đại chủng sinh khi đi giúp xứ, thì cứ tưởng mình là người kiến thức đầy mình, nên chê những sáng kiến của các bạn trẻ trong khi sinh hoạt ở nhà thờ, cứ cho họ là những người “không biết gì” về giáo lý thâm sâu của Giáo Hội; có một vài linh mục không biết vì mặc cảm mình là người “chịu chức chui” khi học chưa hết chương trình thần học hay là vì kiêu ngạo, nên mỗi lần trò chuyện với giáo dân thì chê cha này học thua mình một lớp, chê cha nọ học không ra gì, và khi giảng thì cố lấy những chứng minh thần học, trên trời giảng cho giáo dân nghe, để chứng tỏ ta đây là người học hành đến nơi đến chốn, là người kiến thức đầy mình...
Đức Chúa Giê-su không chạy lăng xăng trước đám đông dân chúng, Ngài cũng không nói xấu các kinh sư và biệt phái, Ngài cũng không dùng những lời cao siêu trên trời để giảng dạy tin mừng Nước Trời cho dân chúng, nhưng Ngài dùng những ví dụ rất dể nhớ, rất mộc mạc và rất cụ thể trong đời sống của con người để dạy dỗ họ.

“Lạy Chúa, xin ban cho con có một tâm hồn khiêm tốn, để con biết nhìn ra những giá trị tu đức nơi mỗi người cùng cộng tác với con trong cuộc sống hằng ngày...”

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư 

Nước chảy ra từ cao nguyên



NỨƠC CHẢY RA TỪ CAO NGUYÊN
An Hồng Tiệm rất hài hước, nhưng lại rất sợ vợ.
Một năm nọ, khi bố vợ chết, chiếu theo phong tục thì An Hồng Tiệm phải mặc quần áo tang đứng khóc bên cửa, bà vợ đứng trong màn trướng trách mắng ông ta, nói : “Tại sao lúc ông khóc mà không có nước mắt ?
An Hồng Tiệm nói : “Bà không thấy nước mắt, tức là tôi đã dùng khăn tay lau khô rồi đấy chứ !”
Vợ nghiêm mặt nói : “Sáng sớm mai đưa quan tài đi, nhất định ông phải khóc ra nước mắt đấy nhé !”
An Hồng Tiệm chỉ biết ừ ừ nghe lệnh, nhưng thực tình không cách gì để khóc cho ra nước mắt, nên trước khi đưa quan tài đi thì dùng một cái khăn tay lớn có kẹp tờ giấy thấm ướt ở giữa buộc vào trên trán, mỗi lần cúi đầu lạy, thì lấy sức ấn mạnh trán trên đất thì nước chảy ra, lại còn khóc thét hơn cả vợ khóc.
Vừa mới khóc xong, bà vợ lại kéo ông chồng vào trong trướng giận dữ nói : “Nước mắt của người ta thì từ trong con mắt mà chảy ra, tại sao ông lại từ trên trán chảy ra hử ?”
An Hồng Tiệm đáp : “Lẽ nào bà không nghe người ta nói “Từ xưa đến nay mây nước từ trên cao nguyên mà chảy ra” hay sao ?
                                           (Phủ Chưởng lục)

Suy tư :
     Có nhiều loại nước : nước từ trên trời rơi xuống gọi là nước mưa với nhiều ô nhiễm bụi bặm, nước từ trên núi chảy xuống gọi là ngước nguồn với nhiều đất đá và rác rưởi, nước chảy xối xả gọi là nước lũ với nhiều phù sa đất cát, nước trong con mắt chảy ra thì gọi là nước mắt với nhiều vị mặn cay xè, nước trên trán chảy xuống gọi là mồ hôi với mùi vị không được sạch sẽ...
     Có một loại nước không chảy từ trên núi xuống, cũng không từ trong con mắt chảy ra, nhưng lại chảy từ trên thập giá xuống, nó không pha tạp các chất bùn đất, bụi bặm hoặc bị ô nhiễm, nhưng lại pha với máu từ quả tim chảy ra, đó chính là nước và máu của Chúa Giêsu đã chảy ra để rữa sạch tội lỗi của nhân loại, thánh Gioan Tông Đồ ghi lại rất rõ ràng : “Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người, tức thì máu cùng nước chảy ra” .
Nước và máu của Chúa Giêsu đã chảy ra từ thập giá  để xoá bỏ mọi vết nhơ trong tâm hồn của những ai tin vào Ngài, máu và nước này chảy ra là để những ai tin vào Ngài được sự sống đời đời. Đó cũng là dấu ấn tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa đối với nhân loại tội lỗi, một tình yêu mà khi trao ban Thiên Chúa đã phải hi sinh chính Con Một của mình.

Mỗi ngày tôi đều có làm một vài việc hi sinh, nhưng những hi sinh ấy –tự trong tâm hồn tôi- có chảy nước và máu không ?

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư 

Tấm bia không có chữ


TẤM BIA KHÔNG CÓ CHỮ
Năm Thiệu Hưng thứ 9 thời Nam Tống, những người buôn bán đổ về Hà Nam tăng thêm nhiều. Có rất nhiều thương nhân mang tấm bia khắc giữa năm Tần Hán từ Trường An đến bán cho Sĩ Đại Phu để được giá cao.
Có một người họ Vương ở Đông Bình, một hôm, cầm một cặp bia đến nói với người Hà Nam rằng : “Gần đây tôi được một tấm bia rất là kỳ lạ.”
Người ta nhìn thấy tấm bia đá chưa điêu khắc, một chữ cũng không, nhưng thấy họ Vương cứ khen lấy khen để, thì cho rằng nó không giống với các loại bia khác, liền hỏi ông ta:
-      “Tấm bia này thuộc thời đại nào thế nhỉ ?”
Họ Vương úp úp mở mở rất lâu mà cũng không trả lời được, người nọ bèn nói:
-         “Nhưng tôi biết tên của tấm bia này, nó gọi là “bia vô danh”, rất hợp với sự khen ngợi của ông”.
Những người đứng chung quanh đều cười lớn và giải tán.
                                           (Phủ Chưởng lục)

Suy tư:
     Khen ngợi là việc phải có trong giao tiếp, nhưng không phải lúc nào cũng khen người khác, bởi vì như thế thì lời khen sẽ mất dần giá trị của nó.
     Ở đời có rất nhiều kiểu khen: khen để động viên người khác, khen để nịnh cấp trên, khen để lấy lòng ông chủ, khen để ra vẻ ta đây cũng biết thưởng thức cái đẹp (nhưng thật ra chỉ a dua theo lời khen của người khác), khen để tâng bốc mà chúng ta thường nói là cho “đi tàu bay giấy”...
     Con người ta cũng có nhiều cách khen: có người thích khen người khác trước mặt, có người thích khen sau lưng, có người thích mua quà tặng để khen, có người chửi trước khen sau...
     Đức Chúa Giê-su dạy cho chúng ta một cách khen người khác, mà người được khen rất phấn khởi và người khen cũng không áy náy khi khen, đó là: “Có thì nói có, không thì nói không”, bởi vì lời khen chỉ có giá trị của nó khi người khen có tâm hồn thành thật biết nhận ra cái đúng cái sai của tha nhân để khen và để góp ý, bởi vì “người chê ta mà chê đúng chính là bạn của ta, còn người khen ta mà khen không đúng là kẻ thù của ta” vậy, bởi vì khi khen ngợi mà không trung thực thì chẳng khác gì tấm bia không có khắc chữ vậy.

     Ai hiểu thì hiểu !

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư