Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

Chúa nhật 14 thường niên

 


CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN


Tin mừng : Mt 11, 25-30
“Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường”.

Anh chị em thân mến,
Ở đời ai cũng có những gánh nặng và nhẹ phải gánh trên vai của mình, những gánh nặng và nhẹ ấy chúng ta –những người Ki-tô hữu- gọi là thánh giá mà Chúa gởi đến. Đức Chúa Giê-su trong bài tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy đến với Ngài, hãy đem tất cả những gánh nặng ấy trao vào tay Ngài, xin Ngài thánh hóa và ban ơn cho chúng ta.
Có gánh nặng là có hiến tế, hiến tế này không phải là hoa quả đầu mùa như của lễ của A-ben, cũng không phải là chiên non của dân Do Thái, nhưng là hiến tế chính mình như Đức Chúa Giê-su đã hiến tế làm của lễ hiến dâng lên Đức Chúa Cha để chuộc tội cho nhân loại.
Phần đông con người khi thấy gánh nặng mà mình phải mang phải vác, thì đem gánh nặng này vứt trong ly rượu ly bia, để rồi gánh nặng càng nặng hơn; có người đem gánh nặng của mình bỏ vào những cuộc vui đen đỏ đến tan gia bại sản, để rồi gánh nặng chỉ như tảng đá nhỏ kia lại trở thành sức nặng của hòn núi đè trên lưng mình...
Thế nhưng người Ki-tô hữu thì lại khác, họ biết làm cho gánh nặng của mình nhẹ hơn khi họ thấm nhuần lời dạy của Đức Chúa Giê-su : “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” . (Mt 11, 28).
Gánh nặng của cha mẹ là khi con cái không nghe lời răn dạy của mình, đem gánh nặng này dâng cho Thiên Chúa với tất cả niêm tin; gánh nặng của vợ là khi chồng vô công rỗi việc thì nhậu nhẹt say sưa, đem gánh nặng này dâng cho Thiên Chúa với tất cả lòng mến và biết ơn; gánh nặng của chồng là khi vợ không biết lo cho gia đình con cái, đem gánh nặng này dâng lên Thiên Chúa với tất cả tâm tình của người con hiếu thảo.v.v...Và còn biết bao nhiêu là gánh nặng trong cuộc đời của mỗi người, mà chỉ có người Ki-tô hữu mới biết làm cho gánh nặng này trở nên nhẹ nhàng khi dâng lên cho Thiên Chúa mà thôi.
Anh chị em thân mến,
Không phải Đức Chúa Giê-su bốc đồng khi nói lên lời mời gọi những ai khó nhọc và gánh nặng hãy đến với Ngài, nhưng câu này được thốt ra từ miệng Ngài sau khi Ngài cầu nguyện với Chúa Cha: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” .(Mt 11, 25-26) Lời cầu nguyện này của Đức Chúa Giê-su là một lời tôn vinh chúc tụng, vì những điều mà Cha đã thực hiện qua Ngài- để cứu chuộc nhân loại.
Chúng ta cứ an tâm tin tưởng và phó thác gánh nặng của mình trong cuộc sống cho Thiên Chúa, để vui vẻ làm tốt bổn phận và trách nhiệm của mình trong đời sống thường ngày, đó chính là đức tin của người Ki-tô hữu vậy !
Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
-------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện

 


29.     ANH EM ĐÙA NHAU

Lý Tử Bạch của huyện Nội Hương làm quan đến chức hàn lâm kiểm thảo, em là Lý Tập Mỹ dừng lại ở Tăng Quảng được ban tước rất lâu mà không được thăng cấp.

Tử Điền (Tử Bạch) viết thư cho em trai nói:

-   “Năm nay em Tăng Quảng, sang năm Tăng Quảng, không biết đã tăng bao nhiêu, rộng (quảng) bao nhiêu ?”

Tập Mỹ cũng phúc đáp lại anh:

-   “Năm nay anh kiểm thảo, sang năm kiểm thảo, không biết kiểm cái gì, thảo được cái gì ?”

(Ký Viên Ký Sở Ký)

 

Suy tư 29:

  Người ít đi xưng tội chế giễu người năng xưng tội: tuần này xưng tội, tuần sau xưng tội, tội gì mà xưng lắm thế ! Thế là lên tiếng cãi nhau.

  Người năng xưng tội trách người không đi xưng tội: tháng này không xưng tội, tháng sau không xưng tội, không xưng tội thì sao được rỗi linh hồn ! Thế là lên tiếng cãi nhau.

  Bí tích Giải Tội như một dòng suối thiêng thiêng rửa sạch tội lỗi của chúng ta, với một điều kiện là: thành tâm thống hối chừa bỏ tội lỗi, người công giáo nào cũng hiểu điều đó, cho nên, năng xưng tội và không xưng tội thì cũng vì ích lợi và không ích lợi cho linh hồn mình mà thôi.

  Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các thánh và những người thánh thiện thì năng đến với tòa cáo giải là dấu chỉ của người được rỗi linh hồn, bởi vì không ai càng tắm mà lại càng dơ bẩn.

  Không nên cãi nhau về việc lãnh nhận các bí tích, nhưng nên tự vấn lương tâm: tôi đã lãnh nhận các bí tích với thái độ và lương tâm như thế nào ?


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện

 


28.     TỐT NHẤT LÀ GIẾT NGƯỜI

Một hòa thượng chuyên môn nói nhân quả báo ứng với mọi người, lấy đó để dối gạt kiếm tiền thiện nam tín nữ.

Một hôm, ông ta nhìn thấy một người đang giết heo, bèn đi tới ngăn cản và khuyên:

-  “A di đà phật, người xuất gia có lòng từ bi, đi đường đều sợ đạp nhầm con kiến, tiên vàn không nên sát sinh”.

Người ấy hỏi:

“Heo cũng không thể giết sao ?”

Hòa thượng nói:

“Đương nhiên, trong kinh Phật có nói: giết thứ gì thì kiếp sau làm thứ đó. Giết chó biến thành chó, giết heo đương nhiên biến thành heo, vĩnh viễn không thể làm người”.

Người ấy cười nói:

-  “Ha ha, theo như ông nói, thì tốt nhất là đi giết người”.

Hòa thượng vội vàng nói:

-  “A di đà phật, ác nghiệt, ác nghiệt, con kiến, loài sâu bọ đều không thể giết, sao lại giết người ?”

Người ấy mắng cho:

-  “Không phải ông nói giết thứ gì thì biến thành thứ đó sao ?”

(Ký Viên Ký Sở Ký)

 

Suy tư 28:

  Thời nay, có những người giết con ruột khi còn trong bào thai của mình (và con của người khác), nhưng lại yêu quý và chăm sóc con chó, con mèo hơn cả báu vật trời cho, những người này quả tim của họ không biểu hiện chữ yêu, nhưng biểu hiện chữ hưởng thụ và ích kỷ to tổ bố trên mặt trên người của họ.

  Giết thú vật để ăn thịt thì không có tội, nhưng cưng chiều con chó con mèo hơn cả con cái mình thì tội gấp ngàn lần, mà giết con cái của mình –dù là bào thai một ngày- thì tội nặng hơn cả núi thái sơn vạn lần.

  Lời của ông hòa thượng nói giết con gì thì sau này đầu thai làm noc đó thì thật không đúng, bởi vì con người ta sau khi chết thì chỉ có hai đường phải đi, đó là thiên đàng và hỏa ngục, hoặc trở thành thánh trên trời hay là ma quỷ trong hỏa ngục, nhưng lời của Thiên Chúa dạy rất đúng trong điều răn thứ 5 ca 10 điều răn: chớ giết người, là vì Thiên Chúa muốn cho con người ta được phúc trường sinh.

  Ai giết con mình (phá thai) thì súc sinh hơn cả thú vật, vì thú vật cũng biết cưng con của nó.

  Ai có lương tâm thì nghe.


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện

 


27.     HỒ DÁN CHÂU PHỦ

Sơn Đông châu Thanh phủ Ích bộ huyện có một thư sinh tên là Triệu Bỉnh Trung, lên kinh đô thi đỗ trạng nguyên.

Khi hồi hương, các quan viên địa phương làm tiệc lớn chúc mừng ông ta, sau khi uống mấy ly rượu, đột nhiên trên trời bay đầy tuyết, có người vội vàng mời Triệu Bỉnh Trung đề thơ.

Ngài trạng nguyên nói:

-    “Chúng ta cùng nhau đề thơ vậy”.

Thế là, nhìn cảnh bên ngoài sân và ngâm câu đầu tiên:

-   “Cắt vụn lông ngỗng trên không múa”.

Quan phủ tiếp lời:

-   “Núi nam núi bắc không thấy đất”.

Quan huyện tiếp theo:

-   “Lưu ly bích ngói biến thành bạc”.

Lúc ấy, Triệu Bỉnh Trung nhìn thấy tuyết càng rơi càng lớn, các quan viên uống đã nghiêng bên nọ ngửa bên kia, bèn dùng lối chơi chữ kết thúc toàn bài thơ:

-  “Hồ dán bôi đen châu phủ rồi”.

(Ký Viên Ký Sở Ký)

 

Suy tư 27:

  Thường thì có lễ là có lạc (vui vẻ) nên gọi là lễ lạc, đó là một nét của văn hóa của hầu hết các dân tộc trên thế giới.

  Quan tân trạng nguyên chỉ nhìn thấy cách uống rượu xỉn quắc cần câu của các quan phủ quan huyện, thì biết mấy ông này cai trị dân như thế nào rồi, cho nên mới kết luận bằng một câu thơ: “Hồ dán bôi đen châu phủ rồi”.

  Người Ki-tô hữu cũng có những ngày lễ vui vẻ, như lễ Giáng Sinh, lễ Phục Sinh và các ngày lễ thánh quan thầy.v.v...nhưng “lạc” của họ -trước hết- là chia sẻ “một tấm bánh và một chén thánh” trong tình yêu của Đức Chúa Giê-su, rồi từ niềm vui này, họ biến cái “lạc” vật chất thành bữa ăn huynh đệ không có say xỉn, không có thóa mạ, không có thách đố nhau tửu lượng, không có la ó om sòm...

  Bởi vì khi chúng ta tham dự một thánh lễ trọng cách sốt sắng, rồi sau đó “lạc” một cách vô độ, buông tuồng, thì người ta sẽ nói: “người Ki-tô hữu chẳng khác gì người khác, họ lấy rượu bia bôi đen đức tin và thánh lễ của họ rồi”.

  Ôi, câu phê bình thật đáng buồn biết bao !


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện

 


26.     CỔ TAY LƯỠNG TRIỀU

Buổi sáng, Tiền Khiêm Ích du lãm núi Hổ Khâu ở Tô Châu, mặc áo không có cổ, tay áo thật lớn. Có một thư sinh đến trước mặt vòng tay thi lễ và hỏi tại sao ông ta mặc áo như thế ?

Tiền Khiêm Ích trả lời:

-      “Không có cổ tức là áo của quan triều hôm nay (nhà Thanh), tay áo lớn là áo của quan triều trước, bởi vì ta làm quan triều trước rất lâu nên quen rồi”.

Thư sinh ấy bèn giả bộ cung kính nói:

-      “Có thể nói đại nhân là “cổ tay[1] lưỡng triều”.

(Ký Viên Ký Sở Ký)

 

Suy tư 26:

  Có một vài phần tử của Giáo Hội muốn tuân giữ cách cử hành thánh lễ bằng tiếng La tin của thời xa xưa, nên lìa bỏ Giáo Hội; có một số người muốn Giáo Hội từ bỏ truyền thống và kỷ luật thánh thiện là sự độc thân của linh mục, nên họ ra sức vận động và nại nhiều lý do để phá vỡ truyền thống ấy, thế là họ tách khỏi Giáo Hội...

Vì thói quen mà ông quan đại thần mặc áo không có cổ của thời nay và tay rộng của thời trước, cho nên trở thành lập dị kỳ quặc, làm người khác nhìn không quen mắt.

Cái áo đẹp nhất và hợp với mọi thời đại nhất của người Ki-tô hữu là sự khiêm tốn và vâng phục, bởi vì Đức Chúa Giê-su đã mặc áo khiêm tốn này khi sinh ra trong hang lừa hôi hám tại Bê Lem, và cũng chính Ngài đã mặc áo vâng phục này khi chịu chết trên thánh giá trên đồi Golgotha, cho nên sẽ không lập dị chút nào khi chúng ta -người Ki-tô hữu- mặc lấy chiếc áo này để đi vào cuộc sống hôm nay.

Khiêm tốn và vâng phục không phải là một thói quen, nhưng là những nhân đức phải tập tành mới có được dưới sự hướng dẫn ánh sáng yêu thương của Đức Chúa Thánh Thần.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

[1] 領袖 vừa là lãnh tụ, vừa là cổ áo và tay áo, thư sinh chơi chữ.

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2026

Lễ Thánh Phê-rô và Phao-lô Tông Đồ

 




LỄ HAI THÁNH PHÊ-RÔ VÀ PHAO-LÔ

TÔNG ĐỒ

Tin mừng: Mt 16, 13-19.
“Anh là Phê-rô, Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời.”

Anh chị em thân mến,
Hôm nay Giáo Hội long trọng mừng kính hai thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô, không nói thì chúng ta cũng biết các ngài là người như thế nào trong Giáo Hội của Đức Chúa Giê-su , thánh Phê-rô được Đức Chúa Giê-su Ki-tô chọn làm thủ lãnh của Giáo Hội, và trao cho ngài quyền đóng và mở cửa Nước Trời; thánh Phao-lô là người nhiệt thành với tôn giáo và niềm tin của mình nên đã đi bắt các Ki-tô hữu, và có lẽ vì ưu điểm nhiệt thành ấy mà Đức Chúa Giê-su đã cảm hóa ngài và chọn ngài làm tông đồ, rồi sai đi loan báo tin mừng Nước Trời cho dân ngoại.
Tinh thần của thánh Phê-rô là chân thành, thẳng thắn, bộc trực dám nói dám làm, đó chính là mẫu gương của người làm tông đồ rao truyền Lời Chúa cho mọi người. Chúng ta chắc chắn cũng có những đức tính như thánh Phê-rô vậy, nhưng chúng ta chưa có tinh thần khiêm tốn như ngài, bởi vì có những lúc bạn và tôi rất chân thành nói lời yêu thương nhưng vẫn còn tính toán lợi hại; có những lần bạn và tôi thẳng thắn nói lên khuyết điểm và việc làm sai trái của người khác, nhưng lời thẳng thắn bộc trực ấy đầy kiêu ngạo dạy đời thiên hạ, và làm cho người khác cảm thấy bực tức hơn là sửa đổi lỗi lầm.
Tinh thần của thánh Phao-lô là can đảm, nhiệt thành và xác tín vào niềm tin của mình, nếu không có những ưu điểm như thế, thì Đức Chúa Giê-su –có lẽ- không chọn ngài làm tông đồ, và cũng không sai ngài đến với dân ngoại là chúng ta.
Lòng nhiệt thành và xác tín vào niềm tin của mình đã làm cho thánh Phao-lô nhiệt thành bắt đạo, và cũng lòng nhiệt thành ấy, mà sau khi nhận biết Đức Chúa Giê-su là Đấng đã vì mình mà chịu chết trên thập giá, thì ngài đã không ngần ngại chuyển lòng nhiệt thành, xác tín này qua cho việc rao giảng Phúc Âm cho những người không phải là Do Thái, là dân ngoại chưa nhận biết Thiên Chúa là Cha của mọi loài.
Anh chị em thân mến,
Cả hai thánh Phê-rô và Phao-lô tông đồ đều có một điểm giống nhau, đó là rất yêu mến Đức Chúa Giê-su và hăng say làm chứng cho Ngài, các ngài đã đem chính mạng sống của mình ra để làm chứng.
Chúng ta đều là những hoa quả được sinh ra bởi lời rao giảng của các ngài, và như thế, chúng ta cũng đều có bổn phận đem Lời Chúa đến cho mọi người bằng chính cuộc sống của chúng ta. Muốn được như thế, bạn và tôi hãy đem tinh thần bảo tồn chân lý Ki-tô giáo của thánh Phê-rô, và tinh thần truyền giáo của thánh Phao-lô đặt vào trong tim trong óc của mình, để khi rao giảng Lời Chúa cho tha nhân, thì chúng ta không làm mất đi tính truyền thống tông truyền của Giáo Hội.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info

Mỗi Ngày Một Câu Chuyện



 25.     CÁC LÃO[1] VẠN TUẾ

Thành Hóa tháng mười một năm Tân Mão triều đại nhà Minh, trên trời xuất hiện sao chổi, các quan đại thần triều đình rất kinh hoàng, cho rằng đó là duyên cớ ngăn cản làm cho tình ý trời đất xa cách.

Các lão Bành Thời và các quan đại thần xin vào yết kiến hoàng đế để thảo luận phương pháp trước mặt hoàng đế. Thế là, các quan phục dịch trong hoàng cung vội đáp ứng yêu cầu của họ và đi thông báo, nhưng chiếu theo quan lệ của họ là không nói nhiều kẻo phí giờ.

Đợi khi hoàng đế tiếp kiến, các đại thần chỉ nói một câu:

-  Hiện tượng trên trời biến hóa thật đáng sợ”.

Ngoài ra không nói một câu nào nữa.

Hoàng đế nói:

“Biết rồi”.

Thế là Bành Thời, Vạn An, Thương Lộ các lão đều quỳ xuống khấu đầu lạy và đồng thanh hô lớn “vạn tuế”. Sau khi hoàng đế bãi trào, các thái giám nói:

-  “Họ nói hoàng đế không triệu tập họ, đến khi được triệu kiến thì không có kiến nghị nào cho ra trò, chỉ là hoan hô “vạn tuế” mà thôi”.

Thiên hạ đem chuyện này đồn ra làm trò cười, gọi các đại thần là “các lão vạn tuế”.

(Ký Viên Ký Sở Ký)

 

Suy tư 25:

  Thời giờ là vàng bạc nên ai cũng muốn nói ngắn gọn, làm việc cho nhanh, nhưng không ai muốn hưởng thụ nhanh chóng ngắn gọn...

  Có một vài người Ki-tô hữu chủ trương đọc kinh ngắn gọn, cầu nguyện ngắn gọn, dâng lễ ngắn gọn, nhưng lại cầu xin rất nhiều, và bắt Chúa phải đáp ứng đủ những yêu cầu đòi hỏi của mình. Họ viện cớ bây giờ là  thời đại laptop, thời đại USB, thời đại MP3, thời đại di động PDA.v.v...để ăn gian giờ cầu nguyện, để xén bớt giờ thánh lễ, và cũng có một vài người dâng mình làm tôi tớ Chúa cũng muốn ngắn gọn như thế.

  Vì ngắn gọn nên các quan đại thần viện hàn lâm bị chế giễu là “các lão vạn tuế”, người ta cũng sẽ gọi những người Ki-tô hữu đọc kinh cầu nguyện ngắn gọn là đạo đức...nửa mùa.

  Ôi, thật đáng buồn !

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư) 

[1] Thời nhà Minh các cử nhân và học sĩ hàn lâm vào nội các làm việc gọi là “các lão”, không giới hạn ở đại thần nội các.